MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của đậu tương cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999).
Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu tương ở Việt Nam được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam. Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đậu tương được trồng cả 3 vụ trong năm (vụ xuân, vụ hè và vụ đông). Song song với việc nghiên cứu chọn tạo giống, việc nghiên cứu về chế độ phân bón, chế độ trồng, chăm sóc để cây sinh trưởng phát triển tốt và phát huy hết tiềm năng của giống là vấn đề rất quan trọng.
Mặc dù đậu tương là cây không kén đất và tương đối dễ trồng nhưng có một chế độ chăm sóc hợp lí, bón phân đúng cách, đúng lượng và đúng thời điểm thì sẽ thu được năng suất cao. Về bón phân: Xu thế hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng bón phân cho cây trồng nói chung, cây đậu tương nói riêng đều dựa trên nguyên tắc: “Duy trì độ phì sẵn có trong đất là giải pháp dễ dàng và đỡ tốn kém hơn là 2 khôi phục độ phì của đất do hậu quả của việc bón không hợp lý trong thời gian dài”. Do vậy, bón phân hữu cơ vi sinh là một biện pháp tốt để bảo vệ đất trồng, vì phân hữu cơ vi sinh làm tăng hàm lượng mùn trong đất, cải thiện tính chất vật lý đất, mùn lại làm tăng cường hoạt động sinh học đất, kích thích sự tăng trưởng của cây trồng. Đem lại cho cây đậu tương đạt hiệu quả kinh tế cao là hết sức cần thiết.
Việc kết hợp giữa bón phân bón hữu cơ và phân hóa học có tác động tương hỗ trực tiếp và quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm của ngành nông nghiệp và tạo nền nông nghiệp phát triển ổn định bền vững. Trên thị trường hiện có rất nhiều loại phân bón hữu cơ vi sinh khác nhau vì vậy để chọn ra loại phân bón cho đậu tương đạt được năng suất cao nhất, chúng ta cần nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữa cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của đậu tương đối với vùng sản xuất nhất định. Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) giống đậu tương ĐT51 có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ra nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao, chất lượng tốt có thể trồng được 3 vụ/năm, khi thu hoạch thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu cơ nhiều, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt. Giống đậu tương ĐT51 đã được trồng tại Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên và cho thấy năng suất cao, phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều vùng khác nhau.Với những lý do nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng và năng suất đậu tương ĐT51 vụ Đông năm 2017 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Xác định được loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ đông 2017 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 1. Yêu cầu - Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng, phát triển, một số chỉ tiêu sinh lý, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51. Ý nghĩa khoa học và ý thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tương, phục vụ cho công tác nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung thêm giống đậu tương mới góp phần đẩy mạnh cơ cấu cây trồng cho tỉnh Thái Nguyên nói riêng và vùng Đông Bắc nói chung. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây đậu tương Cây đậu tương còn gọi là cây đậu nành có tên khoa học là (Glycine max (L) Merrill do Ricker và Morse đề nghị năm 1948.
Trong hệ thống phân loại thực vật cây đậu tương xếp vào họ đậu (Fabaceae), Đậu tương là một trong những loại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gốc của cây đậu tương cũng sớm được xác minh. Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu tương có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cây đậu tương được thuần hoá ở Trung Quốc qua nhiều triều đại tiền phong kiến và được đưa vào trồng trọt và khảo sát có thể trong triều đại Shang (năm 1700-1100 B.C) trước công nguyên. Những thông tin về nguồn gốc đậu tương được trình bày chi tiết trong tài liệu của trong Ngô Thế Dân và cs (1999) [5].
Giá trị của cây đậu tương 2. Giá trị về mặt thương phẩm Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5 – 40%. Trong khi đó hàm lượng protein trong gạo chỉ 6,2 – 12%; ngô: 9,8 – 13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 – 20% và trứng: 13 – 14,8%, lipit từ 15- 20%, hydrat cacbon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thi Thư, 2004) [8]. Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protit và lipit.
Protein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các protein có nguồn gốc thực vật. Hàm lượng protein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng prôtein có trong cá, thịt và cao gấp 2 lần so với các loại đậu đỗ khác. Protein của đậu tương dễ tiêu hoá hơn thịt và không có các thành phần tạo colesteron. Ngày nay người ta mới biết thêm hạt đậu 5 tương có chứa lexithin, có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tăng thêm trí nhớ, tái tạo các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể.
Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng. Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%, linolenolic khoảng 2- 3% (Ngô Thê Dân và cs, 1999) [5]. Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg (Nguyễn Danh Đông, 1982) [8]. Hiện nay, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm thực phẩm được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi, khô và lên men vv… như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu vv… đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương, bánh kẹo và thịt nhân tạo vv… Đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.
Đậu tương là thức ăn tốt cho những người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng. Giá trị mặt công nghiệp Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương được dùng để ép dầu. Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Đặc điểm của dầu đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao: 120- 127; ngưng tụ ở nhiệt độ: -15 đến - 18oC.
Từ dầu này người ta chế ra hàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phòng, ni lông v. Giá trị về mặt nông nghiệp - Làm thức ăn cho gia súc: Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc 1 kg hạt đậu tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Toàn cây đậu tương (thân, lá, quả, hạt) có hàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân lá tươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp của gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh dưỡng khá cao: N: 6,2%, P2O5: 0,7%, K2O: 2,4%, vì thế làm thức ăn cho gia súc rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [5].
- Cải tạo đất: Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu tương nếu sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia Thiều, 2000) [2]. Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón N. Thân lá đậu tương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm 0,05%, trong lá: 0,19% (Nguyễn Danh Đông, 1982) [8].
Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới. Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp sau là lạc, hướng dương. Trong toàn bộ sản lượng cây lấy dầu của thế giới, sản lượng cây đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980.
Ngược lại sản lượng cây của cây lạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [5] Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh tế , hàm lượng dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất.