Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh crd trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộvàhiệu quả điều trị bệnh của thuốc tylosin

Chuyên khảo phân tích Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh crd trên gà thịt lông màu nuôi trong, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

67
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà

2.3. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

2.3.1. Đặc điểm chung

2.3.2. Mầm bệnh

2.3.3. Phương thức lây truyền

2.3.4. Đặc điểm dịch tễ

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả phục vụ sản xuất

4.2. Công tác chăn nuôi

4.3. Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học

4.3.1. Tỷ lệ nuôi sống gà thí nghiệm qua các tuần tuổi

4.3.2. Tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của đàn gà thí nghiệm

4.3.3. Bệnh tích của gà bị nhiễm CRD

4.3.4. Kết quả điều trị bệnh CRD

4.3.5. Chi phí thuốc thú y

4.3.6. Một số chỉ tiêu sức sản xuất thịt của gà thí nghiệm

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Nghiên cứu mùa vụ

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn vào mùa Đông Xuân do điều kiện thời tiết lạnh và ẩm ướt, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Ngược lại, mùa Xuân Hè với nhiệt độ ấm áp và thoáng mát giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc quản lý chuồng trại và điều kiện nuôi dưỡng phù hợp theo từng mùa vụ có thể giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh.

1.1. Mùa vụ và bệnh tật

Mùa vụ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD. Mùa Đông Xuân với nhiệt độ thấp và độ ẩm cao là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Ngược lại, mùa Xuân Hè với nhiệt độ ấm áp và thoáng mát giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc quản lý chuồng trại và điều kiện nuôi dưỡng phù hợp theo từng mùa vụ có thể giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh.

II. Tỷ lệ nhiễm CRD

Tỷ lệ nhiễm CRD trên gà thịt lông màu được ghi nhận cao hơn vào mùa Đông Xuân, đạt khoảng 25-30%, trong khi mùa Xuân Hè chỉ khoảng 10-15%. Bệnh CRD gây ra các triệu chứng như khó thở, khò khè, và giảm tăng trưởng, dẫn đến thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời để hạn chế thiệt hại.

2.1. Bệnh CRD ở gà

Bệnh CRD (Chronic Respiratory Disease) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây ra. Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và năng suất của đàn gà, đặc biệt là gà thịt lông màu. Các triệu chứng phổ biến bao gồm khó thở, khò khè, và giảm tăng trưởng. Bệnh thường ở dạng ẩn tính, khó phát hiện trong giai đoạn đầu, dẫn đến việc điều trị trở nên khó khăn và tốn kém.

III. Hiệu quả điều trị bằng Tylosin

Thuốc Tylosin được sử dụng để điều trị bệnh CRD trên gà thịt lông màu cho thấy hiệu quả cao, đặc biệt khi được áp dụng sớm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ phục hồi của gà bệnh đạt khoảng 85-90% khi sử dụng Tylosin. Thuốc không chỉ giúp giảm các triệu chứng bệnh mà còn cải thiện tăng trưởng và giảm thiểu thiệt hại kinh tế. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh cần được quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng kháng thuốc.

3.1. Thuốc kháng sinh cho gà

Tylosin là một loại kháng sinh phổ biến được sử dụng để điều trị bệnh CRD trên gà. Nghiên cứu cho thấy, Tylosin có hiệu quả cao trong việc giảm các triệu chứng bệnh và cải thiện tăng trưởng của gà. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh cần được quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng kháng thuốc, đặc biệt là trong bối cảnh bệnh CRD có thể tái phát và trở thành mãn tính.

IV. Phòng ngừa bệnh CRD

Phòng ngừa bệnh CRD đòi hỏi sự kết hợp giữa quản lý chuồng trại, vệ sinh môi trường, và sử dụng vắc-xin. Nghiên cứu khuyến nghị việc duy trì chuồng trại thông thoáng, sạch sẽ, và kiểm soát độ ẩm để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn. Bên cạnh đó, việc sử dụng vắc-xin phòng bệnh CRD cũng được coi là một biện pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và thiệt hại kinh tế.

4.1. Chăn nuôi gà an toàn

Chăn nuôi gà an toàn đòi hỏi sự kết hợp giữa quản lý chuồng trại, vệ sinh môi trường, và sử dụng vắc-xin. Nghiên cứu khuyến nghị việc duy trì chuồng trại thông thoáng, sạch sẽ, và kiểm soát độ ẩm để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn. Bên cạnh đó, việc sử dụng vắc-xin phòng bệnh CRD cũng được coi là một biện pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và thiệt hại kinh tế.

13/02/2025
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh crd trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộvàhiệu quả điều trị bệnh của thuốc tylosin

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong chăn nuôi trên thế giới nói chung và chăn nuôi ở nước ta nói riêng thì vấn đề dịch bệnh luôn luôn được quan tâm hàng đầu. Dịch bệnh là vấn đề quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp. Trong những năm gần đây có nhiều dịch bệnh xảy ra gây thiệt hại cho nghành chăn nuôi gia cầm như: Newcastle, Gumboro, viêm đường hô hấp mãn tính (CRD). Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống.

Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ những người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… Mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh. Trong những năm gần đây chăn nuôi ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng sản phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và vệ sinh môi trường. Cùng với sự phát triển của chăn nuôi nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do Mycoplasma gallisepticum gây ra, tỷ lệ chết không cao nhưng gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi. Bệnh CRD xảy ra ở mọi lứa tuổi với triệu chứng ở đường hô hấp chung khó thở và khò khè.

Nhất là khi thời tiết thay đổi, dinh dưỡng kém gà có tỷ lệ nhiễm bệnh cao. Tuy gà mắc bệnh có tỷ lệ chết không cao xong nó rất nguy hiểm cho đàn gà. Mặt khác do hiệu lực phòng bằng vacxin còn hạn chế cộng thêm việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh còn hạn chế về hiệu quả. Bệnh CRD phát triển quanh năm, tuy nhiên bệnh thường phát triển mạnh hơn khi chuồng trại không kín gió, ấm áp vào mùa Đông và sạch sẽ, thoáng mát vào mùa Hè.

Vì vậy 2 bệnh CRD hiện nay vẫn là vấn đề nan giải, đáng lo ngại cần được quan tâm ở các trang trại chăn nuôi công nghiệp. Xuất phát từ thực tế trên được sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ chúng em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộvàhiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộ và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.

Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình mắc bệnh CRD của gà thịt lông màu nuôi ở vụ Đông Xuân và Xuân Hè. - Hiệu quả điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin. - Bản thân bước đầu làm quen công tác nghiên cứu khoa học. - Từ kết quả thực nghiệm đó, bước đầu rút ra đề xuất hợp lý khuyến cáo cho người chăn nuôi về tình hình nhiễm bệnh CRD ở gà và quy trình phòng bệnh CRD.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà thịt lông màu. Hiệu lực của thuốc Tylosin trong việc phòng và điều trị bệnh CRD. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để góp phần vào công tác chăn nuôi gà an toàn, áp dụng những ảnh hưởng tốt của mùa vụ đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống vào chăn nuôi gà thịt lông màu.

Ứng dụng hiệu quả điều trị của thuốc Tylosin trong phòng và điều trị bệnh CRD ở gà thịt lông màu trong chăn nuôi. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp.

Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi + 9 túi khí. Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành.

Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính.

Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan. Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng.

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, 4 cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực.

Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.

Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [23]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí.

Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 - 45 lần/ phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/ phút. Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất.

Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170 cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.

Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí và trong máu gà. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: Oxi 20,94 %; CO2 0,03 %; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) 5 79,93 %. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5 % oxi và 5 - 6,5 % cacbonic. Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Bệnh hô hấp mãn tĩnh ở gà (CRD) * Đặc điểm chung: Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra. Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo và cs, 2007 [8]).

CRD là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với gà, nhất là gà được nuôi theo phương thức công nghiệp. Bệnh làm giảm sức đề kháng của gà, giảm chất lượng thịt của đàn gà thịt. Mầm bệnh lây qua trứng làm giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp nở tăng, làm giảm khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn trên đàn gà con. Bệnh thường ở dạng ẩn tính.

Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ của gà đến 30%, giảm tỷ lệ ấp nở 14 % và giảm tăng khối lượng đến 16 % (Phạm Văn Đông (2002) [5]). CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp. CRD có thể ghép theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: Nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.

coli, Streptococcus… 6 + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: Xuất phát từ gà đã bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm… làm cơ thể yếu đi, có dịp cho vi khuẩn MG bùng phát lên sinh bệnh. + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: Triệu chứng, bệnh tích ở túi khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasmosis(Nguyễn Thanh Sơn và Lê Hồng Mận, 2004 [21]).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên cứu ảnh hưởng mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bằng Tylosin" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa mùa vụ và tỷ lệ nhiễm bệnh CRD (Chronic Respiratory Disease) ở gà thịt lông màu. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh mà còn đánh giá hiệu quả của Tylosin trong việc điều trị. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà chăn nuôi và chuyên gia thú y, giúp họ có những biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp phòng chống bệnh trong chăn nuôi, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu chế tạo kháng thể qua lòng đỏ trứng gà để phòng chống tiêu chảy và sưng phù đầu do e coli ở lợn. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp sinh học trong việc phòng chống bệnh cho động vật nuôi, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.