Đặt vấn đề Trong chăn nuôi trên thế giới nói chung và chăn nuôi ở nước ta nói riêng thì vấn đề dịch bệnh luôn luôn được quan tâm hàng đầu. Dịch bệnh là vấn đề quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp. Trong những năm gần đây có nhiều dịch bệnh xảy ra gây thiệt hại cho nghành chăn nuôi gia cầm như: Newcastle, Gumboro, viêm đường hô hấp mãn tính (CRD). Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống.
Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ những người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… Mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh. Trong những năm gần đây chăn nuôi ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng sản phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và vệ sinh môi trường. Cùng với sự phát triển của chăn nuôi nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do Mycoplasma gallisepticum gây ra, tỷ lệ chết không cao nhưng gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi. Bệnh CRD xảy ra ở mọi lứa tuổi với triệu chứng ở đường hô hấp chung khó thở và khò khè.
Nhất là khi thời tiết thay đổi, dinh dưỡng kém gà có tỷ lệ nhiễm bệnh cao. Tuy gà mắc bệnh có tỷ lệ chết không cao xong nó rất nguy hiểm cho đàn gà. Mặt khác do hiệu lực phòng bằng vacxin còn hạn chế cộng thêm việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh còn hạn chế về hiệu quả. Bệnh CRD phát triển quanh năm, tuy nhiên bệnh thường phát triển mạnh hơn khi chuồng trại không kín gió, ấm áp vào mùa Đông và sạch sẽ, thoáng mát vào mùa Hè.
Vì vậy 2 bệnh CRD hiện nay vẫn là vấn đề nan giải, đáng lo ngại cần được quan tâm ở các trang trại chăn nuôi công nghiệp. Xuất phát từ thực tế trên được sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ chúng em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộvàhiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu nuôi trong nông hộ và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình mắc bệnh CRD của gà thịt lông màu nuôi ở vụ Đông Xuân và Xuân Hè. - Hiệu quả điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin. - Bản thân bước đầu làm quen công tác nghiên cứu khoa học. - Từ kết quả thực nghiệm đó, bước đầu rút ra đề xuất hợp lý khuyến cáo cho người chăn nuôi về tình hình nhiễm bệnh CRD ở gà và quy trình phòng bệnh CRD.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà thịt lông màu. Hiệu lực của thuốc Tylosin trong việc phòng và điều trị bệnh CRD. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để góp phần vào công tác chăn nuôi gà an toàn, áp dụng những ảnh hưởng tốt của mùa vụ đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống vào chăn nuôi gà thịt lông màu.
Ứng dụng hiệu quả điều trị của thuốc Tylosin trong phòng và điều trị bệnh CRD ở gà thịt lông màu trong chăn nuôi. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp.
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi + 9 túi khí. Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành.
Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính.
Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan. Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng.
Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, 4 cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực.
Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.
Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [23]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí.
Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 - 45 lần/ phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/ phút. Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất.
Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170 cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.
Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí và trong máu gà. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: Oxi 20,94 %; CO2 0,03 %; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) 5 79,93 %. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5 % oxi và 5 - 6,5 % cacbonic. Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Bệnh hô hấp mãn tĩnh ở gà (CRD) * Đặc điểm chung: Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra. Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo và cs, 2007 [8]).
CRD là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với gà, nhất là gà được nuôi theo phương thức công nghiệp. Bệnh làm giảm sức đề kháng của gà, giảm chất lượng thịt của đàn gà thịt. Mầm bệnh lây qua trứng làm giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp nở tăng, làm giảm khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn trên đàn gà con. Bệnh thường ở dạng ẩn tính.
Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ của gà đến 30%, giảm tỷ lệ ấp nở 14 % và giảm tăng khối lượng đến 16 % (Phạm Văn Đông (2002) [5]). CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp. CRD có thể ghép theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: Nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.
coli, Streptococcus… 6 + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: Xuất phát từ gà đã bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm… làm cơ thể yếu đi, có dịp cho vi khuẩn MG bùng phát lên sinh bệnh. + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: Triệu chứng, bệnh tích ở túi khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasmosis(Nguyễn Thanh Sơn và Lê Hồng Mận, 2004 [21]).