Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là một ngành truyền thống lâu đời tại Việt Nam, có sự chuyển biến trong khoảng 10 năm trở lại đây. Điển hình từ việc chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hƣớng công nghiệp. Sản phẩm thịt của gia súc, gia cầm là nguồn cung cấp protein chính cho con ngƣời, năm 2015 tiêu thụ bình quân trên đầu ngƣời là 11,5 kg/ngƣời/năm. Khi hội nhập vào kinh tế thị trƣờng thế giới, ngành chăn nuôi phát triển mạnh nhu cầu thức ăn chăn nuôi tăng lên.
Năm 2011 nhu cầu thức ăn công nghiệp cho ngành chăn nuôi xấp xỉ 11,5 triệu tấn. Năm 2011 nƣớc ta nhập 8,9 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (trên dƣới 3 tỷ USD/năm) bao gồm: 3,86 triệu tấn (ngô, lúa mì, bột mì), 4,76 triệu tấn (đậu tƣơng, khô dầu các loại, bột cá, bột thịt xƣơng), 0,9 triệu tấn (premix, khoáng, axit amin). Dự kiến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn chăn nuôi cả nƣớc sẽ lên đến con số 27,4 triệu tấn (Doãn Trí Tuệ, 2011 [27]). Trong khi tổng lƣợng gạo và giá trị xuất khẩu đều sụt giảm, tồn kho rất lớn, giá mua dự trữ cao hơn giá thị trƣờng.
Nƣớc ta phải nhập nguyên liệu thức ăn chăn nuôi với giá cao hơn xuất khẩu gạo. Đây là một nghịch lý lớn cần có sự thay đổi, thay vì nhập ngô, lúa mì, bột mì chế biến làm thức ăn, việc tận dụng nguyên liệu gạo sẵn có tại địa phƣơng (gạo lức) để chăn nuôi rất cần thiết. Do vậy, để đáp ứng đƣợc chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của chính phủ theo hƣớng công nghiệp (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2008 [1]) và để có các sở cứ khoa học về việc sử dụng gạo lức thay thế ngô trong chăn nuôi cũng nhƣ mu ̣c đić h nhằ m khai thác các tiề m năng lúa ga ̣o ở Viê ̣t Nam , chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng việc sử dụng gạo lức trong khẩu phần ăn đến sức sản xuất thịt của gà Ri lai nuôi nhốt ”. Mục đích và yêu cầu của đề tài - Đánh giá các chỉ tiêu sản xuất của gà thịt lông mầu khi sử dụng gạo lức thay thế ngô.
c 2 - Xác định đƣợc mức gạo lức thay thế ngô hợp lý trong khẩu phần thức ăn cho gà Ri lai nuôi nhốt. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Có thêm luận cứ khoa học về ảnh hƣởng của thay thế ngô bằng gạo lức trong khẩu phần đến sức sản xuất thịt của gà Ri lai. Ý nghĩa thực tiễn - Có thể sử dụng tỷ lệ gạo lức hợp lý trong khẩu phần ăn của gà Ri lai nuôi thịt vẫn cho hiệu quả kinh tế.
- Bản thân sinh viên đƣợc làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Cơ sở khoa học về gạo lức Gạo lức hay còn gọi là gạo rằn, loại gạo chỉ xay vỏ bỏ trấu, chƣa đƣợc xát bỏ lớp cám gạo, rất giàu dinh dƣỡng đặc biệt là các sinh tố và nguyên vi lƣợng.
Thành phần của gạo lức gồm chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các VTM nhƣ B1, B2, B3, B6; các axit nhƣ pantothenic (VTM B5), paraaminobenzoic (PABA), folic (VTM M), phytic; các nguyên tố vi lƣợng nhƣ canxi, sắt, mangie, selen, gluthion (GSH), kali và natri. Trong đó, 100 g gạo lức có năng lƣợng 370 Kcal, cacbonhydrat 77,24 g, đƣờng 0,84 g, chất xơ 3,5 g, chất béo 2,92 g, protein 7,94g, thiamin (VTM B1) 0,40 mg, chất xơ 3,5 g (hấp thu 39 %), riboflavin (VTM B2) 0,039 mg (hấp thu 6 %), niacin (VTM B3) 5,09 mg (hấp thu 34 %), axit pantothenic (VTM B5) 1,493 mg (hấp thu 30 %), VTM B6 0,509 mg (hấp thu 5 %), canxi 23mg (hấp thu 2 %), sắt 1,47 mg (hấp thu 12 %), magie 143,00 mg (hấp thu 39 %), photpho 333,00 mg (hấp thu 48 %), kali 223,00 mg (hấp thu 5 %), thiếc 2,02 mg (hấp thu 20 %). Gạo lức có khá đầy đủ dinh dƣỡng cần thiết cho sự sinh trƣởng và phát triển của cơ thể gia súc, gia cầm (Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, [26]). Khả năng sản xuất thịt của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 2.
Ảnh hưởng của dòng, giống, lứa tuổi và tính biệt Giống là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt. Trong các giống gà hiện nay, giống ngoại sinh sản, sinh trƣởng và phát dục tốt hơn gà nội (gà Sasso sinh trƣởng nhanh hơn gà Lƣơng Phƣợng), tuy nhiên cũng cần điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng tốt hơn. Giống gà lai 1 hay nhiều máu cũng sinh trƣởng và phát dục nhanh hơn gà thuần chủng. Gà Ri lai Lƣơng Phƣợng có khả năng sinh trƣởng và phát triển nhanh hơn gà Ri thuần chủng.
c 4 Tuổi và tính biệt cũng ảnh hƣởng đến khả năng sản xuất của gà. Trong chăn nuôi gà thƣơng phẩm, gà trống sinh trƣởng và phát dục nhanh hơn gà mái. Khi gà Ri 8 - 9 tuần tuổi đã biết đạp mái, thay lông, cũng có thể xuất bán, trong khi gà mái đến 11 - 12 tuần tuổi mới thay lông. Do đó, trong nền kinh tế thị trƣờng, các nhà chăn nuôi thƣờng sử dụng các phép lai kinh tế để có đƣợc con lai F1, F2.v và phân loại gà trống mái để nuôi với thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo mục đích sử dụng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Theo Trần Quốc Hùng và cs (2015) [6]: Gà lai ¾ máu Lƣơng Phƣợng có công thức lai tạo là ♂ LV× ♀ F1: (♂ LV x ♀ VBT), gà có tầm vóc trung bình, màu lông có ba màu chủ yếu, vàng đốm và vàng đốm đen, nâu đốm hoa. Kiểu mào cờ, mào tích đỏ tƣơi, mào tai đỏ, da, chân, mỏ đều màu vàng. gà nuôi thịt 84 ngày tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94,67 %, khối lƣợng cơ thể đạt 2219,33 g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng cơ thể là 2,91 kg. Tỷ lệ thân thịt 74,78 %, tỷ lệ thịt đùi là 21,23 %, tỷ lệ thịt lƣờn là 20,15 %, tỷ lệ mỡ bụng thấp 1,88 %, chất lƣợng thịt đáp ứng yêu cầu ngƣời tiêu dùng.
Theo Nguyễn Thị Hoa (2014) [4], giống gà Lƣơng Phƣợng và gà lai Cỏ Mía trong cùng một điều kiện giống nhau thì tỷ lệ nuôi sống của gà lai Cỏ Mía cao hơn gà Lƣơng phƣợng 4 % (ở 12 tuần tuổi), tỷ lệ nuôi sống của gà Lƣơng Phƣợng là 92 % và gà lai Cỏ Mía là 96 %. Khối lƣợng sinh trƣởng ở 8 tuần tuổi thì gà Lƣơng phƣợng cao hơn gà lai Cỏ Mía, gà Lƣơng Phƣợng là 1323,57 g/con và gà lai Cỏ Mía là 131486 g/con. Tiêu tốn thức ăn của gà Lƣơng Phƣợng 89,5 g/con/ngày và gà lai Cỏ Mía 85,64 g/con/ngày. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường Môi trƣờng xung quanh bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, mật độ, ánh sáng.
Trong chăn nuôi, nhiệt độ và độ ẩm ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sản xuất cùa con vật. Nhiệt độ và ánh sáng phụ thuộc vào phƣơng thức chăn nuôi, thiết kế chuồng trại và mật độ nuôi. Gà ở các ngày tuổi khác nhau thì nhiệt độ chuồng nuôi khác nhau. Gà con cần nhiệt độ 32 - 35 oC, gà trên 22 ngày tuổi nhiệt độ là khoảng 20 - 22 oC.
c 5 Theo Nguyễn Trung Kiên (2015) [7], nghiên cứu gà Ri lai (Mía x Lƣơng phƣợng) đến 10 tuần tuổi vụ Đông Xuân có khí hậu lạnh, độ ẩm cao tỷ lệ nuôi sống của gà 94,97 % và vụ Xuân Hè khí hậu nắng ấm, độ ẩm thấp tỷ lệ nuôi sống 97,40 %, điều đó cho thấy rằng mùa vụ Xuân Hè gà có tỷ lệ nuôi sống cao hơn màu vụ Đông Xuân. Theo Nguyễn Thị Hoa (2014) [4], trong qua trình úm gà, các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng ảnh hƣởng rõ rệt đến tỷ lệ nuôi sống của gà. 50 % số gà Lƣợng phƣợng nuôi trên lồng lƣới với tạo hệ thống thoáng mát có tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi 96,84 %, 50 % số gà Lƣơng phƣợng nuôi trên nền có đệm lót trấu dày kết hợp tạo nhiệt độ nhân tạo nhƣ thắp bóng điện nhiệt. đến 10 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống là 95,69 %.
Áp dụng tƣơng tự cho gà lai Cỏ Mía (nuôi đến 8 tuần tuổi) cho thấy 50 % số gà nuôi lồng mát mẻ có tỷ lệ nuôi sống 98,69 %, 50 % số gà nuôi trên nền lót trấu dày kết hợp tạo nhiệt độ nhân tạo bằng cách thắp thêm bóng điện nhiệt có tỷ lệ nuôi sống 96,77 %. Trong chăn nuôi, nhiệt độ và độ ẩm, ánh sáng là các yếu tố rất quan trọng ảnh hƣởng đến năng suất chăn nuôi. Do vậy, các nhà chăn nuôi luôn cố gắng tạo môi trƣờng tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt nhất để chăn nuôi. Đối với các trang trại chăn thả vƣờn thì ngƣời chăn nuôi thƣờng chú ý chăn nuôi nhiều vào vụ Xuân Hè để tránh mùa rét ẩm nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng Dinh dƣỡng là yếu tố ảnh hƣởng lớn nhất tới tốc độ sinh trƣởng. Các chất dinh dƣỡng gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng. Đặc biệt quan trọng là protein, năng lƣợng, tỷ lệ ME/CP, các chất khoáng và vitamin các loại. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [9] cho rằng để phát huy đƣợc khả năng sinh trƣởng cần phải cung cấp thức ăn tối ƣu, với đầy đủ các chất dinh dƣỡng, đƣợc cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lƣợng.
Bùi Đức Lũng và cs (1993) [9] nghiên cứu cứu bổ sung khoáng, vitamin vào khẩu phần nuôi gà Hybro HV85 cho thấy khối lƣợng ở 7 tuần tuổi tăng 85,3 gam so với lô đối chứng. c 6 Nhƣ vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy tiềm năng sinh trƣởng thì một trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu phần nuôi dƣỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở tính toán nhu cầu axit amin cho từng giai đoạn. Ngoài ra, khả năng sinh trƣởng của gia cầm còn bị ảnh hƣởng rất lớn bởi điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phƣơng thức chăn nuôi và thú y phòng bệnh. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [19], có thể sử dụng gạo lức thay thế ngô một phần hoặc hoàn toàn trong thức ăn chăn nuôi gà F1 (♂ Ri x ♀ Lƣơng Phƣợng).