Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây xà lách 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây xà lách Xà lách (Lactuca sativa L.) tên tiếng Anh là Lettuce thuộc họ Cúc (Asteraceae) có nguồn gốc ở Địa Trung Hải. Đây là một loại rau ăn lá, tùy theo giống và điều kiện trồng mà có thé khác nhau cuộn hoặc không cuộn, loại thân thảo, rễ rất phát triển và phát triển nhanh dùng làm rau tươi (Tran Viết Mỹ, 2009). Nguyễn Tiến Ban (2005) đã phân loại loài Lactuca sativa thành các loại: Iceburg Lettuce (Xà lách Mỹ): Lớp lá bên ngoài xanh hơn và bên trong trang hơn. Là loại phổ biến nhất vì có kết cấu lá giòn, mùi vị nhẹ nhàng và có nhiều nước, chứa nhiều choline (cầu tạo nên vitamin B).
Romaine Lettuce (Xà lách Romaine): Có lá màu xanh đậm va dài, lá giòn va hương vị đậm đà hơn các loại khác. Là một nguồn chứa nhiều vitamin A, C, Bi, Ba, và axit folic. Butterhead Lettuce (Xà lách mỡ): Đây là loại xà lách có lá lớn và được sap xếp “lỏng léo”, và rất dé dàng tách ra từ thân, kết cấu lá mềm và hương vi ngọt. Loose-leaf Lettuce (Xà lách lô lô): Lá sắp xếp rời rạc, bản lá rộng và xoăn.
Nó có hương vị nhẹ và kết cấu lá hơi giòn.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Xà lách có rễ cọc phát triển, làm nhiệm vụ chính là giữ cây, bám vào đất được chắc ngoài ra còn làm nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây. Trên rễ cọc có rất nhiều rễ phụ giúp cây bám đất, hút nước và chất khoáng (Gombas, 2007).2 Thân Thân xà lách thuộc thân thảo, là nơi kết nối giữa bộ rễ và lá, vận chuyên chất khoáng do bộ rễ hút lên và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây. Thân xà lách giòn, trên thân có dịch trắng sữa. Thời gian đầu thân phát triển chậm nhưng sau cây đã đạt chiều cao nhất về sinh khối, thân vống rất nhanh và ra hoa (Gombas, 2007).3 Lá Xà lách có số lượng lá lớn, lá sắp xếp trên thân theo hình xoắn ốc, lá ngoài có màu xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng ngà.
Các lá phía trong mềm có chất lượng cao. Bề mặt lá không bằng phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính di truyền. Lá làm nhiệm vu chủ yếu là tông hợp chất hữu cơ nuôi cây. Tùy theo giống mà lá có thể khác nhau, cuốn hoặc không cuốn, lá đơn nguyên hoặc lá chia thùy, mọc cách thành hình sao ở góc và không có lá kèm.
Ở giai đoạn cây con và trong suốt quá trình sinh trưởng, cây xà lách có tốc độ ra lá và tăng kích thước lá rất nhanh khi đạt tới mức độ đặc trưng cho giống.4 Hoa Chùm hoa chứa số lượng hoa lớn, các hoa nhỏ duy trì chặt chẽ với nhau trên một đề hoa, với 5 đài hoa, 4 nhị và 2 lá noãn. Độ tự thụ rất cao, hạt phân và nhụy có độ hữu thụ cao (Gombas, 2007).5 Quả và hạt Quả xà lách thuộc loại quả bế đặc trưng. Hạt không có nội nhũ, hạt hơi dài và det, có mau nâu vàng (Gombas, 2007).3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây xà lách Nhiệt độ: Xà lách có nguồn gốc ôn đới, ưa nhiệt độ thấp. Tuy nhiên trong quá trình trồng trot, chon lọc và thuần hóa, ngày nay cây xà lách có thé trồng được trên nhiều vùng khí hậu khác nhau như nhiệt đới, cận nhiệt đới.
Cây sinh trưởng phát triển tốt ở 8 - 25°C, nhưng nhiệt độ thích hop là 13 - 16°C. Nhiệt độ ngày và đêm rất quan trọng cho sinh trưởng và phát triển của xà lách. Nhiệt độ ngày/đêm thích hợp là 20°C/18°C. Xà lách cuốn phát triển tốt ở nhiệt độ 15 - 20°C, chịu được nhiệt độ 8°C.
Biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch 2°C rất có lợi cho xà lách phát triển (Lê Thị Khánh, 2009). Độ ẩm: Cũng như các loại rau nói chung, xà lách rất cần nước dé phát triển do cây có bộ lá lớn, tốc độ thoát hơi nước cao. Đề đảm bảo nhu cầu nước cho cây sinh trưởng tốt, âm độ thích hợp trong khoảng 70 - 80%. Độ ẩm không khí thích hợp là 65 - 75%.
Tuy nhiên, nếu mưa kéo dài hay đất úng nước sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây xà lách (Lê Thị Khánh, 2009). Ánh sáng: Đối với cây xà lách ánh sáng thích hợp là vùng ánh sáng cận nhiệt đới với cường độ ánh sáng khoảng 17.000 lux và thời gian chiếu sáng 16 giờ/ngày sẽ cuốn bắp chặt hơn (đối với xà lách cuốn). Đề xà lách ăn lá bình thường và cho năng suất cao yêu cầu thời gian chiếu sáng từ 10 - 12 giờ/ngày. Số giờ nắng trong tháng từ 180 - 250 giờ (50 - 60% tổng số giờ nắng ban ngày).
Cường độ ánh sáng thích hợp 17.000 lux sẽ ảnh hưởng tốt đến quá trình tổng hợp chất hữu cơ, giúp cây tăng nhanh về sinh khối và ảnh hưởng đến sự hình thành nụ hoa (Lê Thị Khánh, 2009). Dinh dưỡng: Xà lách có bộ rễ chùm, ăn nông, không kén đất nhưng yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước tốt, pH 5,§ - 6,6 yêu cầu đinh dưỡng cao.4 Giá trị dinh dưỡng của xà lách Theo Phạm Thị Minh Tâm (2002), xả lách là một trong những loại rau ăn lá có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người. Xà lách không những chế biến được nhiều món ăn mà còn chứa được nhiều muối khoáng với những nguyên tố kiềm giúp tinh thần tinh táo và giúp cơ thé tránh được bệnh tật. Cứ 100 g xà lách sẽ cung cấp khoảng 95 g nước, 1,5 g protein, 2,2 g glucid, 0,5 g xenlulo, 77 mg canxi, 34 mg phospho, 0,9 g sắt, 2 mg caroten, 0,14 g vitamin BI, 15 mg vitamin C rat can thiét cho con người.
Theo Nguyễn Ba Huy Cường (2009), tác dụng của xà lách là giải nhiệt, loc mau, cung cấp khoáng chất, giảm dau, trị ho, trị tiêu đường. Xà lách còn chứa nhiều muối khoáng với những yếu tố kiềm, nhờ đó giúp cơ thé lọc máu, tinh than tinh táo và tránh được nhiều bệnh tật. Ngoài các tác dụng trên, ăn lá xà lách còn hưởng được lợi ích như giảm cân, tránh được các bệnh nhiễm trùng đường tiểu. Theo Lê Thị Khánh (2009), ở nước ta, xà lách được sử dụng dé ăn sống, còn ở các nước nó được sử dụng như rau trộn với giấm và muối.
Xà lách cũng có thể dùng để nau nhưng quá trình nấu sẽ làm mat nhiều vitamin, giảm giá trị dinh dưỡng.1 Giá trị dinh dưỡng trong 100 g ăn được của một số loại xà lách Loại xà lách Yếu tố Don vi Iceberg Bibb/Boston Romaine Lárời Trung Quéc Nang luong cal 13 13 16 18 22 Chat dam g 1,01 1,29 1,62 1,30 0,85 Chat béo g 0,19 0,22 0,20 0,30 0,30 Chat xo g 0,53 n/a 0,70 0,70 0,40 Canxi mg 19 n/a 36 68 39 Sat mg 0,50 0,30 1,10 1,40 0,55 Magié mg 9 n/a 6 11 28 Photpho mg 20 n/a 45 25 39 Kali mg 158 257 290 264 330 Natri mg 9 5 8 9 11 Kém mg 0,22 0,17 n/a n/a n/a Đồng mg 0,03 0,02 n/a n/a n/a Mangan mg 0,15 0,13 n/a n/a n/a Vatamin A IU 330 970 2.500 Vatamin B1 mg 0,05 0,06 0,1 0,05 0,06 Vatamin B2 mg 0,03 0,06 0,1 0,08 0,08 Vatamin B3 mg 0,187 0,3 0,5 0,4 0,4 Vatamin C mg 3,9 - 24 18 19,50 Ghi chú: (n/a) chưa xác định (Được trích dẫn Tran Thị Thu Thao, 2016) 1.5 Một số giống xà lách Theo Lê Thị Hồng Anh (2015), trên thị trường hiện nay có nhiều giống xà lách phô biến như là: Xà lách Lô lô đỏ (Lollo Rosa) là loại xà lách quyết rũ nhất, cho các món xa lách trộn trông thật đẹp mat. Vién của lá xà lách này không phải màu xanh thông thường ma là màu đỏ tía thật sự nỗi bật. Xà lách sồi đỏ là loại xà lách rất đặc biệt, lá màu đỏ tía, dài, mềm, hình lá gấp khúc như lá sồi, lá này có vị ngọt và thơm. Xà lách búp Mỹ là loại xà lách cuộn chặt thành búp lớn, nặng, lá to, giòn vả ngọt, nhìn tương tự búp bắp cải.
Xà lách tím cây to, 14 có mau tím tròn xoăn, rat bóng, lá xêp sit nhau thành vòng tròn rất đẹp, kháng bệnh tốt, ăn rất ngon và ngọt. Xà lách xoăn cao san là loại xà lách có 1a xoăn tròn, có màu xanh, ăn có vị ngọt va giòn. Xà lách lá thang thích hợp khí hậu nóng, là loại xà lách phé biến nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, dễ đàng cho các món cuốn, có lá lớn, to tròn, màu xanh hoặc xanh hoặc ngã vàng.2 Giới thiệu về hệ thống thủy canh 1.1 Sơ lược về thủy canh Thủy canh là kỹ thuật trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng có hoặc không sử dụng môi trường tro như sỏi, vermiculite, bông khoáng, rêu than bun, mun cưa, bụi xơ dừa, dé cung cấp hỗ trợ cơ học. Theo tiếng Hi Lap thi Hydroponics (thủy canh), được ghép từ hai chữ Hydro (nước) và ponics (lao động), là canh tác trên các giá thé không phải đất.
Thủy canh có thé sử dụng hoặc không sử dung giá thé, cây trồng được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và nước cho cây sinh trưởng và phát triển (Resh, 2013a). Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), thủy canh là hình thức canh tác không dùng đất. Cây được trồng trên hoặc trong môi trường dinh dưỡng, sử dụng dinh dưỡng hòa tan trong nước dưới dạng dung dịch và tùy theo từng kỹ thuật mà toàn bộ hoặc một phần rễ cây được ngâm trong dung dịch dinh dưỡng.2 Ưu điểm và nhược điểm của thủy canh 1.1 Ưu điểm Có thé chủ động điều chỉnh dinh dưỡng cho cây, các loại đinh đưỡng được cung cấp theo yêu cầu của từng loại rau, có thé loại bỏ các chất gây hại cho cây trồng và không có các chất tồn dư thực vật từ vụ trước. Tiết kiệm được nước do cây sử dụng trực tiếp nước trong dụng cụ đựng dung dịch nên nước không bị thất thoát do ngắm vào đất.
Giảm chỉ phí công lao động do không phải làm một số khâu như làm đất, làm cỏ vun xXới và tưới nước. Hạn chế sử dụng thuốc BVTV và điều chỉnh được hàm lượng dinh dưỡng nên tạo ra sản phẩm rau an toàn đối với người sử dụng. Trồng được rau trái vụ do điều khiển được các yếu tố môi trường. Nâng cao năng suất và chất lượng rau: năng suất rau có thé tăng từ 25 - 500%.
Tao ra sản phâm an toàn, cung cap thêm nguôn rau sạch, tươi ngon cho môi bữa Trồng được trên diện tích nhỏ (ban công, sân thượng) những nơi không có khả năng canh tác.