CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về điều chỉnh lợi nhuận kế toán 1. Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của các doanh nghiệp để điều chỉnh lợi nhuận của năm nay sang năm sau hoặc ngược lại. Trong các nghiên cứu chuyên sâu, hành vi này có thể thực hiện bằng các hoạt động thực tế (real earnings management) hoặc bằng các phương pháp kế toán (accrual earnings management).
Đề tài này chỉ nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phương pháp kế toán nên tất cả các khái niệm và thuật ngữ “hành vi điều chỉnh lợi nhuận” sau đây là ám chỉ hành vi thực hiện thông qua các phương pháp kế toán để làm thay đổi lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp. Theo Elias (2002), điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng đánh giá chủ quan trong quá trình lập, công bố báo cáo tài chính và thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi thông tin nhằm đánh lừa các bên có liên quan, hoặc thay đổi kết quả các hợp đồng có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán. Điều chỉnh lợi nhuận được dịch từ thuật ngữ tiếng anh được sử dụng rất phổ biến trong giới nghiên cứu kế toán là “earnings management”. Ở Việt Nam, khái niệm này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: “làm đẹp báo cáo tài chính”, “phù phép báo cáo tài chính”, “thổi phồng lợi nhuận”, “quản trị lợi nhuận”, “xào nấu số liệu”.
Dù được gọi dưới nhiều thuật ngữ khác nhau nhưng về bản chất, điều chỉnh lợi nhuận là việc làm méo mó số liệu lợi nhuận được thực hiện thông qua việc điều chỉnh doanh thu hoặc chi phí. Theo Brandco Lawfirm - Công ty tư vấn luật hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư và tài chính kế toán, điều chỉnh lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Như vậy, người trực tiếp thực hiện các hành động điều chỉnh lợi nhuận chính là nhà quản lý nhằm mục đích làm sai lệch số liệu lợi nhuận công bố. Theo Degeorge và cộng sự (1999), mục tiêu chính của các công ty cổ phần là tối SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga đa hoá giá trị của cổ đông bằng cách khai thác tài sản được đầu tư bằng vốn cổ phần và nợ phải trả.
Để huy động vốn, các nhà đầu tư cần được khuyến khích thực hiện đầu tư và điều này chỉ xảy ra nếu nhà đầu tư kỳ vọng tích cực về hiệu quả hoạt động trong tương lai của công ty. Bởi vậy, vì lợi ích của công ty, các công ty thường điều chỉnh báo cáo tài chính để khai khống doanh thu và lợi nhuận để làm cho người sử dụng thông tin tin tưởng là công ty vẫn có tình hình tài chính tốt và quyết định đầu tư vào công ty (Joosten, 2012). Theo Levitt (1998) lưu ý rằng hậu quả chung của điều chỉnh lợi nhuận là sự xói mòn niềm tin của các cổ đông vào công ty và làm thiệt hại cho các cổ đông cũng như nền kinh tế. Động cơ điều chỉnh lợi nhuận Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trên báo cáo tài chính, cụ thể là Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, là nhân tố quyết định giá cổ phiếu, số thuế TNDN phải nộp hay nhiều vấn đề khác.
Đơn cử như về thị trường vốn, khi các nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính muốn dự báo dòng tiền trong tương lai, họ sử dụng thông tin về lợi nhuận để định giá cổ phiếu của công ty, từ đó xem xét, đánh giá tình hình đầu tư vốn. Trong khi đó các ngân hàng dựa vào báo cáo này để quyết định cho vay hay không. Nhà nước sử dụng báo cáo này để lập kế hoạch dài hạn, có thể liên quan đến các chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng cho một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên. Các nhân viên tương lai có thể tham khảo báo cáo này để đưa ra quyết định về việc làm.
Theo Ngô Thị Khánh Linh, Nguyễn Thị Mai Lê (2018), nhà quản lý có động cơ điều chỉnh lợi nhuận khi lợi nhuận thực (lợi nhuận không điều chỉnh) khác với mục tiêu của nhà quản lý. Lợi nhuận thực có thể quá cao hoặc quá thấp, còn mục tiêu của nhà quản lý thì được xác định trên cơ sở kỳ vọng của các cổ đông hoặc các bên liên quan. Về động cơ cá nhân, nhà quản lý mới được bổ nhiệm có thể điều chỉnh lợi nhuận giảm trong năm thay đổi nhân sự và điều chỉnh lợi nhuận tăng lên trong năm tiếp theo để thể hiện rằng trong năm mình lên điều hành công ty có mức lợi nhuận tốt và từ đó có thể bảo vệ được vị trí việc làm của mình. Cũng có thể nhà quản lý muốn SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga thăng tiến hoặc tăng lương thưởng từ cổ đông nhờ kết quả kinh doanh tốt.
Về chi phí chính trị, các công ty có thể điều chỉnh số liệu lợi nhuận được báo cáo nhằm tránh sự can thiệp của chính phủ hoặc hưởng ưu đãi thuế, bởi số liệu kế toán là cơ sở để tính thuế. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Trang (2012) vận dụng mô hình điều chỉnh lợi nhuận của DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của 20 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên tương ứng 4 loại hình doanh nghiệp khác nhau (DNNN, DNTN, CTCP, CTTNHH) để nhận dạng việc điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, qua đó cho thấy, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của từng loại doanh nghiệp là khác nhau. Thông thường, đối với CTCP, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn, mà có thể động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.
Các loại hình doanh nghiệp còn lại vì không bán chứng khoán trên thị trường nên ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chí phí thuế TNDN. Vấn đề đạo đức của hành vi điều chỉnh lợi nhuận kế toán Mặc dù hành động điều chỉnh lợi nhuận là hoàn toàn không mới trong ngành kế toán, nhưng các chiến lược để thực hiện những hành động này là những bí mật của các giám đốc điều hành của công ty. Có một ranh giới nhỏ giữa điều chỉnh lợi nhuận và gian lận mà các nhà quản lý không muốn thảo luận về mối liên kết này (Brown, 1999). Tuy nhiên, bất kỳ khoản lợi nhuận nào được điều chỉnh là không thể chấp nhận, bất kể về vật chất (Grant, 2000).
Việc che dấu đi những khoản lợi nhuận thì trên thực tế nhà đầu tư phải biết, để tránh dẫn tới những quyết định sai lầm. Mặt khác nhiều học giả không đồng ý với những lập luận trên. Due (1988) lập luận rằng các cổ đông hiện tại có thái độ tích cực về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tối đa hóa giá trị cổ phiếu bằng chi phí của nó trong tương lai, do đó họ khuyến khích hành động điều chỉnh lợi nhuận. Kaplan (2001) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm sử dụng các tình huống liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, phân biệt giữa các hành động điều chỉnh có lợi cho công ty và những hành động có lợi cho cá nhân người SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga quản lý.
Kết quả cho thấy các cổ đông đánh giá hành vi điều chỉnh lợi nhuận đạo đức hơn khi họ được hưởng lợi ích từ công ty. Tuy nhiên với những người không phải là cổ đông, họ đánh giá hành vi này là phi đạo đức hơn. Dobson (1999) lưu ý rằng gia tăng các hành vi về đạo đức kinh doanh có thể dẫn đến việc xem xét lại mục tiêu cuối cùng mà công ty muốn đạt được: “Tối đa hóa tài sản của cổ đông”. Bởi mục tiêu đạt được cái này hay cái kia là một biện minh về đạo đức cho các hành vi trong kinh doanh.
Parget (2000) lại cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không hẳn là tiêu cực, đó là điều cần thiết và hợp lí thể hiện sự linh hoạt trong các tùy chọn báo cáo tài chính. Bởi nếu người quản lý có trách nhiệm tối đa hóa giá trị của cổ đông thì người quản lý phải chọn trong số tất cả các lựa chọn pháp lý giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng phân biệt “tốt” và “xấu” của điều chỉnh lợi nhuận. Điều chỉnh lợi nhuận “tốt” xảy ra khi người quản lý tạo ra hiệu suất tài chính ổn định bằng các quyết định kinh doanh tự nguyện có thể chấp nhận được, và vì nó không được xem là hành vi tiêu cực hay gian lận nên không bị cấm.
Điều chỉnh lợi nhuận “xấu” xảy ra khi người quản lý tạo ra các khoản mục kế toán nhân tạo hoặc ước tính kéo dài vượt quá giới hạn hợp lý. Tóm lại, có những trường hợp hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hợp pháp và ngược lại. Tuy nhiên, trường hợp nào đi chăng nữa thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận xét cho cùng là hành vi phi đạo đức – không trung thực, bởi nó làm thay đổi đi thông tin tài chính thực tế của công ty, dẫn tới người sử dụng thông tin dễ có những quyết định sai lầm. Tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 1.
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới trước đây liên quan đến đề tài Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận với đối tượng khảo sát là sinh viên đại học, học viên cao học hoặc kế toán viên chuyên nghiệp. Shafer và Wang (2010) đã nghiên cứu thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhân viên kế toán làm việc ở 10 công ty địa phương tại Trung Quốc và 5 công ty đa quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra rằng người Hoa Kỳ có xu hướng xem các thao SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga tác kế toán là phi đạo đức nhưng thao tác vận hành là đạo đức; trong khi những người Trung Quốc tương đối mâu thuẫn về tính chấp nhận đạo đức của hành vi và vận hành nó.