CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN.1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài 1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học Từ trước đến nay, khái niệm nghiên cứu khoa học được dùng để chỉ các hoạt động nhằm nghiên cứu, khám phá bản chất, quy luật, tác dụng của các sự vật, hiện tượng trong lòng. Theo Treswell (2018) [16], trong quá trình phát triển của xã hội, yêu cầu thực tiễn đối với khoa học không ngừng tăng lên. Hàm lượng nghiên cứu ứng dụng trong hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng được nâng cao. Lewis (2015) [15] đã nghiên cứu rằng khái niệm nghiên cứu khoa học trở nên quen thuộc, bao gồm các yêu cầu đối với cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai.
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, kiểm tra, điều tra hoặc thử nghiệm. Nghiên cứu khoa học không chỉ ở các phòng thí nghiệm, trong các viện nghiên cứu, mà tăng mạnh ở các trường đại học. Đặc biệt là giáo dục ở Đại học đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với nghiên cứu khoa học. Giảng dạy và nghiên cứu trở thành hai nhiệm vụ chính của giảng viên sinh viên các trường đại học.Theo luật khoa học và công nghệ (Quốc Hội 2013) [3], nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn.
Theo Salgueira cùng cộng sự (2012) [11], sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên bị tác động bởi đặc điểm cá nhân và điểm trung bình học của sinh viên. Đối với đặc điểm cá nhân thì giới tính, tính tình có ảnh hưởng nhiều đối với quyết định tham gia nghiên cứu của sinh viên. Những sinh viên có tính tình cở mở, năng động, hướng ngoại thì có khả năng tham gia nghiên cứu khoa học cao hơn những sinh viên trầm tính, ít nói. Ngoài ra, theo Salgueira cùng cộng sự thì, những sinh viên có điểm trung bình học càng cao thì khả năng tham gia nghiên cứu càng nhiều.
17 Khám phá này của các tác giả là nền tảng lý luận cho nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên sau này. Theo Armstrong và Sperry (1994) [12], nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới. Kết quả của nghiên cứu khoa học tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học được phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng. Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật. Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội.
Nghiên cứu khoa học chú trọng vào vào cả quá trình và kết quả nghiên cứu từ đó giúp sinh viên mạnh dạn và tự tin, sinh viên có các kĩ năng nghiên cứu và có thể chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập.2 Khái niệm sinh viên đại học Căn cứ tại Điều 2 Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư 10/2016/TT- BGDĐT quy định về khái niệm sinh viên như sau: “Điều 2. Sinh viên được quy định tại quy chế này là người đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học. Sinh viên là trung tâm của các hoạt động giáo dục và đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, được bảo đảm Điều kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo.” Sinh viên là những người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.
Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Sinh viên hiện nay có đủ điều kiện để thuận tham gia nghiên cứu khoa học. Sinh viên có những đặc điểm riêng nổi bật đó là có tuổi đời còn trẻ thường từ 18 tuổi đến 25 tuổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, có tri thức đang được trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên môn, họ ưa các hoạt động giao tiếp. Sinh viên là những người dễ tiếp thu tri thức, thích sự mới mẻ, họ sáng tạo và đầy năng động.
Sinh viên hiện nay có đủ điều kiện thuận lợi học tập trong môi trường học tập có cơ sở vật chất hiện đại, giao thông thuận tiện di chuyển, sinh viên có nhiều phương tiện tiếp xúc với các tài liệu khoa học : qua sách báo điện tử, qua sách, các công trình nghiên cứu trước đó,. Nghiên cứu khoa học là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng của trường cũng như năng lực của đội ngũ giảng viên. Nghiên cứu khoa học còn được các tổ chức uy tín trên thế giới như ARWU, QS World, Webometrics, QS Asia, THE xem như là một tiêu chí quan trọng để xếp hạng các trường đại học, là cơ sở làm tăng giá trị của một trường đại học (White và đtg, 2012) [18]. Nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học và đổi mới phương pháp giảng dạy.
Nghiên cứu khoa học của sinh viên trong trường đại học là một quá trình phát triển năng lực của sinh viên giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập vào thực tiễn. Trong đó, sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành quá trình nhận thức có tính chất nghiên 19 cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình. Nghiên cứu khoa học sinh viên là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, đặc trưng bởi một nhiệm vụ nghiên cứu và do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác, tuy không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học nhưng có những đặc điểm tương tự với đề tài, và do vậy có thể vận dụng các phương pháp của một đề tài khoa học như : chương trình, dự án, đề án.
Nghiên cứu khoa học sinh viên là đề tài do sinh viên thực hiện khi đang theo học tại các cơ sở đào tạo, vì vậy nó bao gồm các đặc trưng. Các cơ sở đào tạo có vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường giúp sinh viên tham gia vào hoạt động này. Nếu các cơ sở đào tạo không có chính sách hỗ trợ thì hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khó lòng phát triển được. Do sinh viên còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghiên cứu, do vậy mỗi đề tài nghiên cứu do sinh viên thực hiện đều được phân công ít nhân một người hướng dẫn.
Người hướng dẫn đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng và giúp đỡ sinh viên hoàn thành đề tài nghiên cứu.3 Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu là việc xác định một vấn đề đang tồn tại trong đời sống, xem xét, thu nhập thông tin, phân tích số liệu và hoàn thành một báo cáo, nghiên cứu khoa học là một quá trình thiết yếu của các nhà khoa học, được thực hiện một cách có tổ chức, giải thích các vấn đề đang tồn tại trong xã hội một cách khoa học, khám phá các vấn đề mới, gia tăng sự hiểu biết của con người về thế giới.Hoạt động nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên thể hiện được vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo như nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và 20 góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm mới cho xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò thiết yếu trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học cần có nguồn lực đầu tư rộng rãi của Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu và các trường đại học. Do vậy, việc chi cho nghiên cứu khoa học là rất quan trọng nên cần phải đánh giá một cách khách quan hiệu quả của khoản chi đó.
Hơn nữa, nó đặt nền tảng cho việc quản lý và theo dõi tiến độ nghiên cứu, giúp đánh giá tác động và ý nghĩa thiết yếu của hoạt động nghiên cứu, rút ra bài học kinh nghiệm để điều chỉnh chính sách nghiên cứu khoa học và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên bao gồm thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực được đào tạo và lĩnh vực khác phù hợp với khả năng của sinh viên. Tham gia các hoạt động hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt học thuật, hội nghị sáng tạo khoa học công nghệ, câu lạc bộ khoa học sinh viên, các giải thưởng khoa học công nghệ trong và ngoài nước và các hình thức hoạt động khoa học và công nghệ khác khác của sinh viên. Tham gia triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào thực tiễn trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên mục đích chính là tìm tòi, phát hiện nhứng vấn đề cấp thiết cần giải pháp để khắc phục, hạn chế ngay trong môi trường học tập, sinh viên mở rộng được kiến thức, hình thành tính độc lập làm việc, hình thành khả năng giải quyết vấn đề linh động. Ngày nay, kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của trường đại học.