Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu chi phí chăn nuôi gia cầm hiện đại, thức ăn luôn chiếm tỷ trọng chi phối từ 70% đến 75% tổng giá thành sản xuất. Protein là dưỡng chất hữu cơ sống còn, chiếm khoảng 20% khối lượng cơ thể gà và từ 12,5% đến 14,3% khối lượng quả trứng. Theo thống kê của ngành nông nghiệp, mức tiêu thụ trứng gia cầm bình quân tại Việt Nam từng đạt khoảng 80 quả/người/năm, và chiến lược phát triển chăn nuôi quốc gia đặt mục tiêu vượt mốc 140 quả/người/năm với quy mô đạt 14 tỷ quả trứng cùng hơn 1.000 nghìn tấn thịt gia cầm.

Đối với mô hình chăn nuôi bán thâm canh và thả vườn, việc lai tạo các dòng gà mới có năng suất cao và chất lượng thịt thơm ngon đang là xu thế tất yếu. Gà dòng VP là tổ hợp lai triển vọng mới được chọn tạo, bao gồm gà sinh sản VP4 và gà thịt thương phẩm VP34. Tuy nhiên, việc thiếu hụt các nghiên cứu chuẩn hóa về nhu cầu protein theo từng giai đoạn phát triển đã dẫn tới tình trạng phối trộn thức ăn lãng phí hoặc không phát huy hết tiềm năng di truyền của giống.

Đề tài được triển khai nhằm xác định mức protein thô thích hợp trong khẩu phần ăn của gà bố mẹ VP4 và gà thương phẩm VP34 qua từng giai đoạn tuổi, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy trình dinh dưỡng tối ưu. Nghiên cứu được thực hiện tại Trại thực nghiệm Liên Ninh thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện Chăn nuôi, trong khung thời gian 12 tháng từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017. Kết quả đạt được mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp giảm tiêu tốn thức ăn tới 8,89% trên gà thịt và nâng cao tỷ lệ đẻ trung bình lên 63,65% trên gà sinh sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh trưởng tích lũy của động vật theo công trình của Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, khẳng định sinh trưởng là quá trình tích lũy protein và chất hữu cơ dưới sự điều hòa của hệ gen. Nhu cầu protein của gia cầm được xác lập theo mô hình sinh lý học của Vũ Duy Giảng: nhu cầu duy trì bằng thể trọng nhân 0,0016 chia 0,55, và nhu cầu tăng khối lượng bằng mức tăng trọng nhân 0,18 chia 0,55 dựa trên hiệu suất đồng hóa protein đạt 55%.

Khung lý thuyết tiếp theo áp dụng nguyên lý cân bằng năng lượng trao đổi và protein thô theo tiêu chuẩn của Farrell và Scott. Tỷ lệ này biến thiên từ 135:1 đến 140:1 tùy theo giai đoạn sinh trưởng và hướng sản xuất. Các khái niệm cốt lõi được vận hành trong nghiên cứu gồm: tỷ lệ nuôi sống, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, tuổi thành thục sinh dục, hệ số tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm và chỉ số phẩm chất trứng theo đơn vị Haugh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm trên tổng đàn 1.800 cá thể, bao gồm 900 gà mái sinh sản VP4 và 900 gà thương phẩm VP34 nuôi từ 1 ngày tuổi. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là thiết kế thí nghiệm 1 nhân tố ngẫu nhiên hoàn toàn. Mỗi đối tượng được phân bổ đều vào 3 lô thí nghiệm tương ứng 3 mức protein, mỗi lô gồm 3 ô lặp lại với 100 cá thể/ô nhằm triệt tiêu sai số ngoại cảnh và bảo đảm tính đồng nhất về khối lượng ban đầu đạt 35,46 đến 36,64 gam.

Phương pháp phân tích dựa trên việc kiểm tra thành phần hóa học thức ăn bằng phương pháp phân tích tiêu chuẩn tại Viện Chăn nuôi. Khối lượng cơ thể được đo đạc định kỳ bằng cân kỹ thuật có độ chính xác từ ±0,1g đến ±10g. Số liệu sinh học được thu thập liên tục qua 38 tuần tuổi đối với gà bố mẹ và 16 tuần tuổi đối với gà thịt. Dữ liệu được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 16 và Excel, áp dụng phân tích phương sai và kiểm định Tukey để kiểm tra sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95% (p < 0,05).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Trên đàn gà bố mẹ VP4, việc tăng mức protein thô trong khẩu phần ăn từ 18% lên 19% và 20% ở giai đoạn sinh sản từ 21 đến 38 tuần tuổi đã cải thiện vượt bậc các chỉ tiêu sinh học. Tỷ lệ đẻ trứng bình quân đạt 61,68% ở lô 19% protein và 63,65% ở lô 20% protein, cao hơn rõ rệt so với mức 57,08% ở lô 18% protein (p < 0,05). Tỷ lệ đẻ đỉnh cao tại lô 20% protein đạt 83,75% ở tuần tuổi thứ 27, sớm hơn 1 tuần và cao hơn 7,45% so với lô 18% protein chỉ đạt 76,30% ở tuần tuổi 28. Tỷ lệ nuôi sống toàn kỳ 0 đến 38 tuần tuổi đạt 87,66% ở hai lô bổ sung protein cao, vượt trội hơn mức 84,66% của lô đối chứng. Khối lượng gà hậu bị kết thúc 20 tuần tuổi đạt 1670,80 gam ở mức protein cao, cao hơn mức 1567,30 gam ở mức protein thấp.

Trên đàn gà thương phẩm VP34 giai đoạn 0 đến 16 tuần tuổi, lô thí nghiệm áp dụng công thức phân kỳ 20% - 18% - 17% protein thô cho kết quả sinh trưởng vượt bậc. Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg tăng khối lượng ở lô này chỉ là 3,79 kg, thấp hơn đáng kể so với mức 4,16 kg của lô ăn khẩu phần 18% - 16% - 15% protein (p < 0,05), giúp tiết kiệm 0,37 kg thức ăn trên mỗi kg thịt tăng thêm.

Thảo luận kết quả

Khả năng sinh sản vượt trội của gà mái VP4 ở mức protein 19% và 20% bắt nguồn từ việc cung cấp đầy đủ axit amin thiết yếu cho quá trình tạo nang trứng và hoàn thiện tế bào sinh dục. Với mức năng lượng trao đổi duy trì ở mức 2.797 đến 2.799 kcal/kg, tỷ lệ ME/CP đạt khoảng 140:1 đã tối ưu hóa hiệu quả hấp thu thức ăn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lâm Minh Thuận trên gà Leghorn với mức protein thích hợp 19%, đồng thời phù hợp với công bố của Hồ Xuân Tùng về tổ hợp lai dòng Lương Phượng và Ri đạt khối lượng hậu bị 1582,6 đến 1679,8 gam lúc 19 tuần tuổi.

Khi biểu diễn trực quan qua đồ thị đường biểu diễn tỷ lệ đẻ và bảng tương quan tăng khối lượng, quỹ đạo sinh trưởng của các lô thí nghiệm mức protein cao luôn chiếm vị trí ưu thế phía trên đường biểu diễn của các lô protein thấp. Điều này minh chứng mức protein cao không chỉ rút ngắn tuổi đẻ quả trứng đầu tiên xuống 140 ngày so với 148 ngày, mà còn tạo tiền đề vững chắc cho việc kéo dài chu kỳ khai thác trứng chất lượng cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, áp dụng ngay quy trình dinh dưỡng phân kỳ cho đàn gà bố mẹ VP4 tại các cơ sở nhân giống: giai đoạn 0 đến 8 tuần tuổi sử dụng khẩu phần chứa 19% đến 20% protein thô (năng lượng 2.949 kcal ME/kg); giai đoạn 9 đến 20 tuần tuổi kiểm soát nghiêm ngặt ở mức 15% đến 16% protein thô (năng lượng 2.750 kcal ME/kg) kết hợp chế độ ăn định mức; giai đoạn sinh sản 21 đến 38 tuần tuổi duy trì mức 20% protein thô (năng lượng 2.797 kcal ME/kg) nhằm đạt mục tiêu tỷ lệ đẻ bình quân trên 63,65% và tỷ lệ sống trên 87,66%. Đơn vị thực hiện: Các trung tâm giống và trang trại chăn nuôi gia cầm giống; Thời gian triển khai: Áp dụng định kỳ theo từng lứa giống mới.

Thứ hai, chuẩn hóa công thức phối trộn thức ăn 3 pha cho gà thịt thương phẩm VP34: giai đoạn 0 đến 4 tuần tuổi sử dụng 20% protein thô; giai đoạn 5 đến 8 tuần tuổi sử dụng 18% protein thô; giai đoạn 9 đến 16 tuần tuổi sử dụng 17% protein thô. Giải pháp này hướng tới chỉ tiêu kỹ thuật hạ FCR xuống dưới 3,79 kg thức ăn/kg tăng khối lượng và rút ngắn chu kỳ xuất chuồng xuống 16 tuần. Chủ thể thực hiện: Các hợp tác xã và hộ chăn nuôi quy mô gia trại; Thời gian: Ngay trong quý tiếp theo.

Thứ ba, kiểm soát các yếu tố tiểu khí hậu chuồng nuôi kết hợp cùng chế độ dinh dưỡng: duy trì độ ẩm chuồng nuôi ổn định từ 65% đến 70%, mật độ nuôi nhốt điều chỉnh theo phương thức nuôi từ 0,1 đến 0,35 m2/con để hạn chế tích tụ khí độc NH3 và CO2. Chủ thể thực hiện: Kỹ thuật viên chuồng trại; Thời gian: Giám sát hàng ngày.

Thứ tư, xây dựng tài liệu chuyển giao công nghệ và phần mềm quản lý khẩu phần: Viện Chăn nuôi và Học viện Nông nghiệp Việt Nam cần chủ trì biên soạn cẩm nang kỹ thuật phối trộn thức ăn tận dụng ngô, thóc, đậu tương kết hợp đậm đặc C21, C25, C200 cho 500 trang trại vệ tinh trong giai đoạn tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Dinh dưỡng động vật. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác về chỉ số sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, phẩm chất vỏ trứng và đơn vị Haugh của các dòng gà lai đặc thù tại Việt Nam.

Nhóm thứ hai là chủ các trang trại, gia trại chăn nuôi gà giống và gà thương phẩm thả vườn. Người chăn nuôi có thể sử dụng trực tiếp các công thức phối trộn nguyên liệu ngô, đậu tương và cám đậm đặc để nâng cao tỷ lệ đẻ trứng lên trên 63% và giảm chỉ số tiêu tốn thức ăn xuống 3,79 kg/kg thịt.

Nhóm thứ ba là các kỹ sư dinh dưỡng và chuyên gia phát triển sản phẩm tại các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi. Nguồn dữ liệu về tỷ lệ xơ thô từ 4,28% đến 7,61%, hàm lượng canxi từ 0,97% đến 3,94% và phốt pho từ 0,42% đến 1,34% là cơ sở lý tưởng để thiết kế dòng sản phẩm cám hỗn hợp chuyên biệt cho gà lông màu.

Nhóm thứ tư là cán bộ khuyến nông và các nhà hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp địa phương. Tài liệu giúp định hình các mô hình sinh kế giảm nghèo bền vững, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Mức protein nào mang lại năng suất trứng cao nhất cho đàn gà bố mẹ VP4? Khẩu phần chứa 20% protein thô kết hợp mức năng lượng 2.797 kcal ME/kg mang lại hiệu quả sinh sản vượt trội nhất ở giai đoạn 21 đến 38 tuần tuổi. Mức dưỡng chất này giúp đàn gà đạt tỷ lệ đẻ bình quân 63,65%, đỉnh cao đẻ đạt 83,75% ở tuần thứ 27 và nâng tỷ lệ nuôi sống toàn kỳ lên 87,66%.

Hàm lượng protein tối ưu cho gà thương phẩm VP34 qua các giai đoạn tuổi là bao nhiêu? Gà thương phẩm VP34 đạt năng suất tối ưu khi áp dụng khẩu phần 3 giai đoạn: 20% protein thô cho giai đoạn 0 đến 4 tuần tuổi, 18% cho giai đoạn 5 đến 8 tuần tuổi, và 17% cho giai đoạn 9 đến 16 tuần tuổi. Công thức này giúp giảm tiêu tốn thức ăn xuống còn 3,79 kg/kg tăng trọng.

Vì sao cần áp dụng chế độ ăn hạn chế ở giai đoạn gà hậu bị 9 đến 20 tuần tuổi? Nuôi hạn chế với mức protein 15% đến 16% giúp khống chế khối lượng cơ thể gà mái đạt chuẩn 1625 đến 1670 gam lúc 20 tuần tuổi. Việc này ngăn chặn tích lũy mỡ nội tạng, giúp cơ quan sinh sản phát triển cân đối và đảm bảo tuổi đẻ quả trứng đầu tiên đúng kỳ hạn ở 140 ngày tuổi.

Chỉ số tiêu tốn thức ăn FCR trên gà thịt VP34 được cải thiện như thế nào qua nghiên cứu? Nghiên cứu chứng minh khẩu phần protein thích hợp giúp hạ FCR từ 4,16 kg thức ăn/kg tăng khối lượng ở lô đối chứng xuống còn 3,79 kg ở lô thí nghiệm mức protein cao. Mức giảm 0,37 kg thức ăn trên mỗi kg tăng khối lượng mang lại lợi nhuận kinh tế lớn cho người nuôi.

Tỷ lệ năng lượng trao đổi trên protein ME/CP có vai trò gì đối với chất lượng trứng? Tỷ lệ ME/CP cân đối ở mức 140:1 đảm bảo gà thu nhận đủ dưỡng chất để tổng hợp albumin và noãn hoàng mà không bị dư thừa năng lượng. Điều này duy trì chỉ số hình dạng trứng chuẩn mực, độ dày vỏ tối ưu và đơn vị Haugh cao trong suốt giai đoạn khai thác 38 tuần tuổi.

Kết luận

  • Xác lập chuẩn xác mức protein thô tối ưu cho gà bố mẹ VP4 giai đoạn sinh sản là 20%, giúp tỷ lệ đẻ bình quân đạt 63,65% và tỷ lệ nuôi sống đạt 87,66%.
  • Chuẩn hóa khẩu phần dinh dưỡng 3 giai đoạn 20% - 18% - 17% protein cho gà thịt VP34, hạ tiêu tốn thức ăn xuống 3,79 kg TĂ/kg tăng khối lượng.
  • Khẳng định mối tương quan giữa mức protein thích hợp với việc rút ngắn tuổi thành thục sinh dục xuống 140 ngày và đẩy sớm đỉnh cao đẻ trứng về tuần 27.
  • Hoàn thiện ngân hàng dữ liệu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng của các tổ hợp lai gà thả vườn trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm tại Việt Nam.
  • Đóng góp giải pháp kỹ thuật thiết thực giúp tối ưu hóa 70% đến 75% chi phí thức ăn trong chuỗi giá trị chăn nuôi gia cầm.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng mô hình khảo nghiệm quy mô 10.000 cá thể tại các tỉnh miền Bắc trong giai đoạn tới. Quý độc giả, nhà khoa học và các cơ sở chăn nuôi hãy tải toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng ngay công thức khẩu phần chuẩn xác vào thực tiễn sản xuất.