Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa huyện hoài đức thành phố hà nội

Nghiên cứu ảnh hưởng của phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa tại huyện Hoài Đức, Hà Nội, góp phần nâng cao hiệu quả canh tác.

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ khoa học

2013

92
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.1. Chất thải rắn nông nghiệp (CTRNN)

1.1.1. Khái niệm chất thải rắn nông nghiệp

1.1.2. Phân loại chất thải rắn nông nghiệp

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp kế thừa

2.3. Phương pháp khảo sát thực địa

2.4. Phương pháp thí nghiệm

2.5. Phương pháp xử lý thống kê toán học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức – Hà Nội

3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức

3.1.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp

3.2. Thực trạng về tình hình quản lý chất thải rắn nông nghiệp

3.2.1. Hiện trạng phát sinh CTRNN ở huyện Hoài Đức

3.2.2. Tình hình sử dụng và xử lý CTRNN ở huyện Hoài Đức

3.3. Tác động của một số hình thức xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp đến môi trường đất trồng lúa ở huyện Hoài Đức

3.3.1. Ảnh hưởng của một số cách đốt rơm rạ trên đồng ruộng đến tính chất môi trường đất

3.3.2. Ảnh hưởng của đốt rơm rạ đến nhiệt độ đất

3.3.3. Ảnh hưởng của đốt rơm rạ đến khu hệ vi sinh vật đất

3.3.4. Ảnh hưởng của việc sử dụng rơm rạ đến tính chất môi trường đất. Một số tính chất hóa học đất thí nghiệm

3.3.5. Ảnh hưởng của lượng bón hữu cơ đến chất mùn trong đất

3.3.6. Ảnh hưởng của độ ẩm đến chất mùn trong đất

3.3.7. Hàm lượng mùn trong đất và tỷ lệ C/N

3.4. Đề xuất giải pháp quản lý tốt phế phụ phẩm nông nghiệp đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển nông nghiệp bền vững

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của phế phụ phẩm nông nghiệp đến đất lúa

Nghiên cứu về phế phụ phẩm nông nghiệp (PPPNN) và ảnh hưởng của chúng đến tính chất đất lúa tại huyện Hoài Đức, Hà Nội là một vấn đề cấp thiết. Với diện tích đất nông nghiệp lớn, việc quản lý và sử dụng hiệu quả các phế phụ phẩm này không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng hợp lý các phế phụ phẩm có thể cải thiện độ màu mỡ của đất, tăng cường khả năng giữ nước và dinh dưỡng cho cây trồng.

1.1. Khái niệm và vai trò của phế phụ phẩm nông nghiệp

Phế phụ phẩm nông nghiệp bao gồm các chất thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp như rơm rạ, vỏ trấu, và các loại chất thải khác. Chúng có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính chất đất lúa thông qua việc cung cấp chất hữu cơ và dinh dưỡng cho đất.

1.2. Tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp tại Hoài Đức

Tại huyện Hoài Đức, việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp còn hạn chế. Nhiều nông dân vẫn chưa nhận thức được giá trị của các phế phụ phẩm này, dẫn đến tình trạng vứt bỏ hoặc đốt trực tiếp trên đồng ruộng, gây ô nhiễm môi trường.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp

Quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại Hoài Đức đang gặp nhiều thách thức. Việc thiếu các phương pháp xử lý hiệu quả dẫn đến ô nhiễm môi trường và giảm chất lượng đất lúa. Nhiều nông dân vẫn còn thói quen đốt rơm rạ, gây ra khói bụi và ô nhiễm không khí.

2.1. Thực trạng quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp

Thực trạng quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại Hoài Đức cho thấy nhiều nông dân chưa có ý thức trong việc thu gom và xử lý. Hệ thống thu gom và xử lý chất thải còn yếu kém, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

2.2. Tác động của việc đốt rơm rạ đến môi trường

Việc đốt rơm rạ không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn làm giảm chất lượng đất lúa. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc đốt rơm rạ làm giảm số lượng vi sinh vật có lợi trong đất, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của phế phụ phẩm đến đất lúa

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp khảo sát thực địa và thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa. Các mẫu đất được lấy từ các khu vực khác nhau để phân tích và so sánh.

3.1. Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa được thực hiện để thu thập dữ liệu về tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp tại các hộ gia đình. Dữ liệu này sẽ giúp đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả.

3.2. Phương pháp thí nghiệm trong phòng lab

Các thí nghiệm trong phòng lab được thực hiện để phân tích các chỉ tiêu hóa học của đất, từ đó đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng phế phụ phẩm đến tính chất đất lúa.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phế phụ phẩm đến đất lúa

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp có tác động tích cực đến tính chất đất lúa. Các chỉ tiêu như độ pH, hàm lượng mùn và dinh dưỡng trong đất đều được cải thiện khi có sự tham gia của phế phụ phẩm.

4.1. Tác động đến độ pH và độ màu mỡ của đất

Việc sử dụng phế phụ phẩm giúp cải thiện độ pH của đất, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa. Độ màu mỡ của đất cũng được nâng cao nhờ vào việc bổ sung chất hữu cơ từ phế phụ phẩm.

4.2. Ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật trong đất

Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng phế phụ phẩm làm tăng số lượng vi sinh vật có lợi trong đất, từ đó cải thiện khả năng phân giải chất dinh dưỡng và tăng cường sức khỏe cho cây trồng.

V. Giải pháp quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp hiệu quả

Để quản lý hiệu quả phế phụ phẩm nông nghiệp, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền và người dân. Việc nâng cao nhận thức và áp dụng các phương pháp xử lý hiện đại là rất cần thiết.

5.1. Đề xuất các phương pháp xử lý phế phụ phẩm

Các phương pháp xử lý như ủ phân hữu cơ, chế biến thành thức ăn cho gia súc hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất năng lượng cần được khuyến khích và áp dụng rộng rãi.

5.2. Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng

Cần tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn để nâng cao nhận thức của nông dân về giá trị của phế phụ phẩm nông nghiệp và các phương pháp xử lý hiệu quả.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa tại Hoài Đức đã chỉ ra rằng việc quản lý và sử dụng hợp lý các phế phụ phẩm là rất cần thiết. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các mô hình quản lý bền vững hơn.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong phát triển nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong việc cải thiện chất lượng đất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững tại Hoài Đức và các khu vực khác.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các phương pháp xử lý phế phụ phẩm và tác động của chúng đến các loại cây trồng khác nhau, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng vùng miền.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa huyện hoài đức thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp với trên 9 triệu ha đất nông nghiệp. Năm 2010, giá trị sản lượng của nông nghiệp ước đạt trên 232,65 nghìn tỷ đồng (giá trị so sánh với năm 1994), tăng 4,7 % so với năm trước, cao hơn năm 2009 (3%). Trong các cây trồng nông nghiệp, lúa được coi là cây lương thực quan trọng và được sản xuất nhiều nhất với sản lượng hàng năm ước đạt 35 – 40 triệu tấn.

Thông thường, tỷ lệ sản phẩm thu hoạch từ cây lúa xấp xỉ 50%, do vậy lượng phế thải sẽ là rất lớn. Đây là nguyên nhân làm cho chất thải rắn nông nghiệp hiện đang là một trong những vấn đề môi trường nông thôn bức xúc ở Việt Nam. Theo báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004 có khoảng 64,5 triệu tấn chất thải nông nghiệp bao gồm chất thải trồng trọt và chăn nuôi tại khu vực nông thôn. Trước đây, các chất thải nông nghiệp như các loại thân, lá cây hay còn gọi là phế phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch thường được bà con nông dân tận dụng làm thức ăn cho gia súc, làm phân bón cho cây trồng hoặc làm chất đốt.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do đời sống kinh tế khá hơn nên những phế phụ phẩm này ít được sử dụng cho các mục đích dân sinh mà được vứt bỏ bừa bãi hoặc đốt ngay trên đồng ruộng. Thực trạng này không những làm mất vệ sinh công cộng, cảnh quan môi trường mà còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và đặc biệt là gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Trong hơn 20 năm đổi mới, sản xuất lúa ở nước ta đã chuyển sang sản xuất lúa hàng hóa, có bước phát triển vượt bậc. So với năm 1983 diện tích trồng lúa tăng từ 5,9 triệu ha lên 7,3 triệu ha, sản lượng từ 14.500 triệu tấn tăng lên 35 triệu tấn và theo đó hàng năm có khoảng trên 30 triệu tấn rơm rạ.

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và mức độ cơ giới hóa cao, những nhu cầu sử dụng rơm rạ làm chất đốt, lợp nhà,…không còn nữa, đại bộ phận rơm không được thu gom sử dụng. Tại Đồng bằng sông Hồng hiện nay gần như chưa có thị trường rơm rạ. Việc thu gom rơm chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình. Một số hộ tự thu gom rơm rạ của mình, phơi khô rồi đánh đống.

Với tình trạng này tại Đồng bằng sông Hồng, chưa thể nghĩ đến việc xây dựng mô hình thu gom, chế biến rơm đồng bộ như các nước phát triển. Trường Đại học Khoa học tự nhiên Khoa Môi trường 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ khoa học Hoàng Thị Thanh Hiếu Ngoài ra, ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển của sản xuất lúa hàng hóa, nhằm nâng cao năng suất và sản lượng, nông dân đã chuyển sang dùng nhiều phân hóa học. Hàng năm trên cả nước sử dụng hàng triệu tấn phân hóa học, chủ yếu do thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu và việc quản lý, sử dụng phân bón hóa học và các loại bao bì. Mỗi năm, ở nước ta phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn tồn lưu các loại hoá chất nông nghiệp bị thu giữ và những loại đã quá hạn sử dụng [2].

Ở nước ta, thuốc VTV đã được sử dụng từ những năm 40 của thế kỷ trước để phòng trừ các loại dịch bệnh. Diện tích đất canh tác sử dụng thuốc VTV cũng tăng theo thời gian từ 0,48% (năm 1960) đến nay là 100%. Đến những năm gần đây, việc sử dụng thuốc VTV đã tăng lên đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại, với hơn 1.000 loại hóa chất VTV đang được lưu hành trên thị trường. Việc sử dụng thuốc VTV, cũng như rơm rạ không được thu gom, đốt trên đồng đã gây nhiều tác động xấu như làm thoái hóa đất trồng, ô nhiễm môi trường,… Chính vì vậy, vấn đề quản lý chất thải rắn nông nghiệp nói chung và quản lý các phế phụ phẩm nông nghiệp nói riêng đang là một trong những vấn đề cấp thiết ở khu vực nông thôn, nơi mà còn nhiều vướng mắc về kinh tế, về cơ chế chính sách, về trình độ kỹ thuật, đội ngũ cán bộ chuyên môn còn thiếu và ý thức của người dân về vấn đề vệ sinh môi trường còn thấp kém.

Hoài Đức là huyện ven đô của Hà Nội, nhưng hiện vẫn còn khoảng 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp với diện tích đất tính tới thời điểm năm 2010 vào khoảng 6.175ha chiếm 75% tổng diện tích đất tự nhiên với tổng sản lượng lương thực thu được 22. Như vậy, lượng rơm rạ thải ra trong sản xuất nông nghiệp là tương đối lớn. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có những hình thức quản lý hợp lý. Việc xử lý rất tùy tiện, phụ thuộc vào thói quen, khả năng và quy mô của người dân sản xuất.

Trong đó một lượng không nhỏ đang được đốt trực tiếp trên đồng ruộng. Những tác động của hình thức quản lý phế phụ phẩm nông nghiệp đến đất hoàn toàn chưa được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” có Trường Đại học Khoa học tự nhiên Khoa Môi trường 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ khoa học Hoàng Thị Thanh Hiếu mục đích cơ bản là đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và đưa ra một số giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả phế phụ phẩm nông nghiệp ở huyện Hoài Đức nói riêng và các khu vực nông thôn khác của cả nước nói chung nhằm góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống vùng nông thôn. Nội dung của đề tài bao gồm: - Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp khu vực huyện Hoài Đức, bao gồm tình hình thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải rắn nông nghiệp cũng như các điều kiện vệ sinh môi trường khu vực.

Nghiên cứu vai trò của các cấp trong công tác quản lý, vai trò và sự tham gia của người dân vào công tác quản lý và bảo vệ môi trường. - Xác định ảnh hưởng của việc đốt rơm rạ đến nhiệt độ và số lượng vi sinh vật. Nghiên cứu mẫu phân tích được thực hiện đối với đất được lấy tại ruộng trồng lúa thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. - Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc vùi rơm rạ đến các tính chất đất, đặc biệt là biến động chất mùn đất trong điều kiện phòng thí nghiệm.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần quản lý hiệu quả phế phụ phẩm nông nghiệp của huyện Hoài Đức nói riêng và các vùng nông thôn khác nói chung. Trường Đại học Khoa học tự nhiên Khoa Môi trường 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ khoa học Hoàng Thị Thanh Hiếu CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Chất thải rắn nông nghiệp (CTRNN) 1. Khái niệm chất thải rắn nông nghiệp Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất mà con người bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa.

Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khoẻ con người. Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải; Chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu; Chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là nước thải, chất thải phát sinh sau quá trình sản xuất nông nghiệp được gọi là chất thải nông nghiệp… Hay có thể hiểu chất thải rắn nông nghiệp là nguồn sinh khối hay những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp. Khối lượng của chất thải này nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tăng trưởng, phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, gia tăng dân số, vùng địa lý, mùa vụ…. Chất thải nông nghiệp là vấn đề quan trọng trong cuộc sống nông thôn ngày nay vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu, có như vậy mới biết cách để quản lý, phân loại, và tận dụng, đồng thời cũng từ đó xác định rõ trách nhiệm của người nông dân khi không tuân thủ quy trình thu gom, xử lý theo quy định.

Từ các phân tích trên, theo bảng thuật ngữ của Thống kê Môi trường, Liên hợp quốc, 1997 “Chất thải nông nghiệp là vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp. Nó bao gồm chất thải sau thu hoạch trồng trọt (rơm, rạ, vỏ trấu…), phân và các chất thải trong quá trình chăn nuôi từ các trang trại, nhà ở, và các lò giết mổ hay phân bón, các bao bì thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình canh tác nông nghiệp hay chất thải trong nuôi trồng thủy hải sản”. Chất thải rắn nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn phát sinh và mang đặc tính của loại hình nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay trồng trọt là loại hình tạo ra nguồn thải rơm rạ là lớn nhất.

Rơm rạ là phần thân và lá, chiếm khoảng một nửa sản lượng của cây ngũ cốc, như lúa mạch, lúa mì và lúa gạo. Ở nước ta, cây ngũ cốc chủ yếu là cây lúa và ngô. Rơm rạ có hàm lượng tro cao (trên Trường Đại học Khoa học tự nhiên Khoa Môi trường 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ khoa học Hoàng Thị Thanh Hiếu 22%) và lượng protein thấp. Các thành phần hydrate cacbon chính của rơm rạ gồm lienoxenluloza (37,4%), hemicelluloses (44,9%), linhin (4,9%) và hàm lượng tro (9 - 14%) [9].

Đã có lúc rơm rạ được coi là một loại sản phẩm phụ hữu ích thu hoạch được, nhưng do nhu cầu về lương thực mà sản lượng lúa ngày càng gia tăng, cùng với đó là nguồn rơm rạ không thể tận dụng hết, nên rơm rạ đã trở thành một nguồn phế thải khó xử lý trong nông nghiệp (Bảo Châu, 2009). Phân loại chất thải rắn nông nghiệp Thực tế ở nông thôn Việt Nam, việc phân loại chất thải rắn nông nghiệp vốn được thực hiện rất tốt, vốn chủ yếu là rác thải hữu cơ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của phế phụ phẩm nông nghiệp đến tính chất đất lúa tại Hoài Đức, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của các phế phụ phẩm nông nghiệp đối với chất lượng đất trồng lúa. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà các chất thải nông nghiệp có thể cải thiện độ phì nhiêu của đất mà còn chỉ ra những lợi ích môi trường từ việc tái sử dụng các phế phẩm này. Bằng cách áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại, tài liệu này mở ra hướng đi mới cho việc quản lý đất nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn nghiên cứu tái sử dụng rơm rạ làm phân bón cho cây lúa tại tỉnh Hưng Yên nhằm cải tạo độ phì nhiêu của đất giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nơi trình bày chi tiết về việc sử dụng rơm rạ như một nguồn phân bón tự nhiên. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn đề xuất ứng dụng công nghệ bùn hạt hiếu khí trong xử lý nước thải chăn nuôi, giúp bạn nắm bắt các công nghệ tiên tiến trong xử lý chất thải nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học bước đầu nghiên cứu xử lý rơm rạ bằng trichoderma spp làm thức ăn nuôi trùn quế sẽ cung cấp thêm thông tin về việc ứng dụng vi sinh vật trong xử lý rơm rạ, mở rộng hiểu biết của bạn về các giải pháp sinh học trong nông nghiệp.