Đặt vấn đề Cây khoai tây (Solanum Tuberosum.L) là cây lương thực của nhiều nước châu Âu và ở một số nước khoai tây là cây lương thực chủ yếu. Củ khoai tây chứa 20% lượng chất khô trong đó có 80 - 85% là tinh bột, 3 - 5% là protein và một số vitamin khác. Nếu so sánh về năng suất chất khô trên một đơn vị trồng trọt thì khoai tây cao hơn lúa mì 3 lần, cao hơn lúa nước 1,3 lần và cao hơn ngô 2,2 lần. Hiện nay khoai tây được xếp vào hàng thứ 4 trong số những cây lương thực quan trọng nhất của thế giới và được trồng ở 148 nước kéo dài từ 71 vĩ tuyến Bắc đến 40 vĩ tuyến Nam.
Theo số liệu của tổ chức nông lương của liên hợp quốc năm 2014 (Food and Agriculture Organizaion, FAO) diện tích khoai tây trên thế giới là 19,2 triệu ha với tổng sản lượng 385 triệu tấn. Trong đó diện tích khoai tây Châu Âu chiếm 29,1%, sản lượng chiếm 31,9%, diện tích châu Á chiếm 51,9% và sản lượng chiếm 48,8% (FAOSTAT, 2017)[21] Khoai tây có tiềm năng năng suất khá cao tới 100 - 120 tấn/ha. Tuy nhiên sự biến động về tiềm năng năng suất giữa các vụ và các vùng là khá lớn do khoai tây chịu tác động mạnh của những yếu tố từ bên ngoài. Nhiệt độ thích hợp cho thân lá phát triển là 180C, củ phát triển là 16 - 170C; ánh sáng ngày dài thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, giai đoạn củ hình thành thì cây lại yêu cầu sánh sáng ngày ngắn.
Yêu cầu về ẩm độ cũng thay đổi theo các thời kỳ sinh trưởng và phát triển, trước khi hình thành củ ẩm độ cần là 60%, thời kỳ hình thành củ ẩm độ đất phải đạt 80%. Để đạt được năng suất cao, khoai tây còn yêu cầu lớp đất mặt phải rất tơi xốp, đất thịt nhẹ, đất cát pha thích hợp với cây khoai tây. Khoai tây là cây trồng có nguồn gốc ôn đới, sinh trưởng và phát triển trong điều kiện nhiệt độ thấp. Khi du nhập vào Việt Nam, cây trồng này trồng Luan van 2 chủ yếu vào vụ Đông ở Miền Bắc và một phần diện tích ở Tây Nguyên.
Là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên cây khoai tây dần nằm trong cơ cấu cây vụ Đông của nhiều tỉnh. Tuy nhiên việc nghiên cứu về cây khoai tây chưa đưọc quan tâm đúng mức so với giá trị của nó mang lại, trong khi nhu cầu về tiêu dung khoai tây ngày càng tăng thì năng suất và sản lượng khoai tây vẫn còn rất thấp chỉ đạt 14,09 tấn/ha, bằng 70,27% năng suất khoai tây bình quân trên thế giới (Faostat, 2017)[21]. Vì thế sản xuất khoai tây ở nước ta vẫn chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dung khoai tây trong nước (Đỗ Kim Chung, 2003)[3] Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc thuộc đông Bắc nước ta với diện tích đất tự nhiên hơn 3532 km2 và dân số trên một triệu người. Thái Nguyên không chỉ là một tỉnh có thế mạnh và phát triển về công nghiệp mà còn là một tỉnh có nền nông nghiệp khá vững chắc.
Tỉnh rất chú trọng vào việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp năng cao năng suất, sản lượng, lương thực - thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Những năm trở lại đây nhờ thực hiện chiến lược ‘‘cánh đồng 50 triệu đồng/ha’’, cây khoai tây đã được đầu từ và phát triển, người dân từng bước đã đưa cây khoai tây làm cây trồng vụ đông trong cơ cấu sản xuất 3 vụ xong năng suất và chất lượng khoai tây vẫn còn thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trang năng suất thấp và chất lượng khoai tây còn kém. Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do thiếu bộ giống và nguồn giống chất lượng kết hợp với kỹ thuật canh tác, sử dụng phân bón chưa phù hợp của người dân trồng khoai tây.
Giống khoai tây solara có nguồn gốc từ Đức, với thời gian sinh trưởng 80 – 90 ngày, năng suất từ 15 -20 tấn/ha thâm canh tốt đạt 30 tấn/ha. Giống thích hợp trồng trong vụ Đông và Đông Xuân ở miền Bắc. Là một giống có tiềm năng năng suất cao, dễ trồng và chăm sóc nhưng hiện nay chưa có các nghiên cứu cụ thể về tình hình bón phân cũng như liều lượng phân bón thích Luan van 3 hợp cho loại cây trồng này. Phân Kaly là một loại dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng, nguyên tố Kaly có vai trò làm tăng năng suất, tăng khả năng chống chiụ với môi trường bất thuận, chống chịu sâu bệnh.
Bón Kaly hợp lí giúp cây trồng chống chịu tốt hơn. Vì vậy cần thiết có nghiên cứu về liều lượng phân bón thích hợp cho cây khoai tây. Việc nghiên cứu các liều lượng phân kaly phù hợp sẽ phát huy hết tiềm năng của giống. Cây khoai tây nếu được đầu tư thâm canh sẽ mang lại lượng hàng hóa lớn, có giá trị xuất khẩu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,… Xuất phát từ nhu cầu thực tiến trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kaly đến năng suất và chất lượng khoai tây solara vụ đông năm 2017 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn liều lượng phân Kaly phù hợp trong sản xuất khoai tây Solara thương phẩm trong điều kiện vụ Đông tại Thái Nguyên 1. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc lựa chọn mức phân Kaly thích hợp với khoai tây Solara tại Thái Nguyên. Ý nghĩa học tập - Giúp sinh viên có kĩ năng thu thập, xử lý số liệu, làm đề tài tốt nghiệp.
- Trang bị cho sinh viên kiến thức, kĩ nằng làm việc, nghiên cứu khoa học, chuẩn bị hành trang vào đời. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Việt Nam là nước có nền nông nghiệp từ lâu đời, trong đó cây lương thực là cây chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sự phát triển kinh tế của người dân, sản phẩm của chúng được dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm sản phẩm xuất khẩu và thúc đẩy các ngành phát triển khác. Từ đó mà cây lương thực ngày càng phát triển.
Tuy nhiên còn nhiều khó khăn mà nông dân vấp phải hiện nay còn chưa nắm bắt được các biện pháp canh tác, dinh dưỡng cho cây trồng hợp lý. Vụ đông nhiệt độ thấp làm ảnh hưởng tới sinh lí cây trồng, nế gắp các đợt rét kéo dài mà không đmả bảo dinh dưỡng tốt, nhất là dinh dưỡng kali thì cây rất dễ chết hoặc sinh trowngr kém làm giảm năng suất. - Vai trò của Kali Là một nguyên tố rất linh động và tồn tại trong cây dưới dạng ion. Đặc biệt kali không có trong thành phần các chất hữu cơ trong cây.
Kali tồn tại chủ yếu ở huyết tương tế bào và không bào và hoàn toàn không có mặt trong nhân tế bào. Hầu hết kali trong tế bào thực vật (80%) tồn tại trong dịch tế bào, chỉ khoảng 20% là tồn tại ở dạng hấp phụ trao đổi với thể keo trong huyết tương và không bào. Mặc dù không trực tiếp tham gia vào cấu trúc vật chất cấu tạo nên tế bào nhưng kali lại có vai trò quan trọng trong việc ổn định các cấu trúc này và hỗ trợ cho việc hình thành các cấu trúc giầu năng lượng như ATP trong quá trình quang hợp và phosphoril hóa. Kali ảnh hưởng trước tiên đến việc tăng cường hydrat hóa các cấu trúc keo của huyết tương, nâng cao khả năng phân tán của chúng mà nhờ đó giúp cây giữ nước tốt, tăng khả năng chống hạn.
Kali giúp cây tăng cường tích lũy tinh bột trong củ khoai tây và đường saccaro trong cây củ cải đường và đường đơn trong rất nhiều loại cây rau quả khác nhau. Kali tăng cường tính chống rét và sự chống chịu qua mùa Luan van 5 đông của cây nhờ nó làm tăng lực thẩm thấu của dịch tế bào. Kali cũng giúp cây tăng cường khả năng kháng các bệnh nấm và vi khuẩn. Kali giúp cây tăng cường khả năng tổng hợp các hợp chất hydrat các bon cao phân tử như cellulo, hemicellulo, các hợp chất peptit v.
nhờ đó làm cho các loại cây hòa thảo cứng cáp, chống đổ tốt. Kali giúp cho cây tăng cường tổng hợp và tích lũy hàng loạt các vitamin, có vai trò quan trọng trong đời sống thực vật. Thiếu kali gây ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất trong cây. Thiếu vắng kali sẽ làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, làm phá hủy quá trình trao đổi các hợp chất cacbon và protein trong cây, làm tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp, gây lép hạt, làm giảm tỷ lệ nảy mầm và sức sống hạt giống dẫn đến ảnh hưởng xấu đến số lượng và chất lượng mùa màng.
Biểu hiện thiếu kali có thể thấy là: Các lá già trở nên vàng sớm và bắt đầu từ bìa lá sau đó bìa lá và đầu lá có thể trở nên đốm vàng hoặc bạc, bìa lá chết và bị hủy hoại và lá có biểu hiện như bị rách. Thiếu kali làm chậm lại hàng loạt các quá trình hóa sinh ,làm xấu đi hầu như tất cả các mặt của quá trình trao đổi chất. Thiếu kali sẽ làm chậm quá trình trình phân bào, sự tăng trưởng và sự dài ra của tế bào. Thiếu kali còn làm giảm năng suất quang hợp và trực tiếp dẫn đến giảm sản lượng mùa màng.
Ngược lại, sự dư thừa kali cũng không tốt cho cây. Dư thừa ở mức thấp gây đối kháng ion, làm cây không hút được đầy đủ các chất dinh dưỡng khác như magie, natri v., Dư thừa ở mức cao có thể làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường đất, ngăn cản sự hút nước và dinh dưỡng nói chung, ảnh hưởng xấu đến năng suất mùa màng. - Những chức năng của Kali trong cây Kali (K) có nhiều chức năng sinh lý quan trọng, điều tiết các hoạt động sống của thực vật thông qua các tính chất hoá lý, hoá keo của tế bào. K đóng vai trò quan trọng trong các quá trình hô hấp, quang hợp, vận chuyển sản phẩm quang hợp, trao đổi đạm và tổng hợp protit.
K Tham gia hoạt động hoá trên 60 enzym, làm tăng khả năng hút nước và dinh dưỡng của bộ rễ. K Luan van 6 làm tăng sức chống chịu của cây trồng với các điều kiện bất lợi như đất bí, khô hạn, nhiệt độ, gió và các rối loạn về sinh lý .