Đặt vấn đề Với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, con người không chỉ nâng cao về nhu cầu vật chất mà còn bổ sung thêm về kiến thức và tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ mới. Bên cạnh đó, con người còn chú trọng đến những giá trị tinh thần, những niềm vui đơn giản trong cuộc sống. Vì vậy, việc lựa chọn một loại cây, loại hoa đề trang trí trong nhà hay xung quanh vườn sẽ mang lại cảm giác thư thái, dễ chịu sau một ngày làm việc mệt mỏi. Trong số đó, lan là loài hoa biểu tượng cho sự thanh cao, quý phái, vương giả trong thế giới hoa và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống con người.
Lan có nhiều loài, mỗi loài mang một nét đẹp riêng với màu sắc rực rỡ và hình dang độc đáo, cái đẹp của lan được thể hiện qua những đường nét tao nhã của cánh hoa và hình dạng của thân, lá nên được rất nhiều người yêu thích. Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là khu vực thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thực vật. Nhiều loài lan rừng không chỉ cho hoa đẹp, lâu tàn, màu sắc và hương thơm rất đa dạng mà còn có giá tri về được liệu như các loài thuộc chi Coeogyne, Aerides, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedium va một số loài thuộc chi Anoectochilus, Dendrobium. Trong những chi lan này, Qué lan hương (Aerides odorata Lour.) thuộc chi Aerides (Giáng hương) là loài lan có nhiều ưu điểm như hình dáng, màu sắc đẹp, đải hoa đài, hương thơm đễ chịu và độc đáo nên rất được ưa chuộng trên thị trường làm hoa cắt cành và trồng chậu.
Không chỉ có giá trị thẩm mỹ, Qué lan hương còn có giá trị về kinh tế và giá trị được liệu. Bởi vì hương thơm loài lan này có mùi đặc trưng của qué và khó phai nên Qué lan hương được sử dụng dé tách chiết lấy tinh dau nhằm mục đích phục vụ cho ngành mỹ phâm cũng như tạo hương nước hoa (Nguyễn Văn Việt và ctv, 2016). Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra gần bên trong Qué lan hương có chứa nhiều hợp chat có gia trị được liệu cao. Tuy nhiên, Qué lan hương đang đối mặt với nguy cơ suy giảm do việc khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt cùng với môi trường sóng bị thu hẹp do nạn phá rừng, cháy rừng ngày càng nhiều và tỷ lệ hạt nay mầm trong tự nhiên thấp.
Năm 2017, Qué lan hương đã được đưa vào danh mục Cites về các loài cần được bảo tồn do khu vực phân bồ trong tự nhiên bị hạn chế (Phùng Thị Hà và ctv, 2023). Dựa vào tính toàn năng của tế bào dé bảo tồn loài lan này thì công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật là phương pháp hiệu quả và sử dụng phố biến trong nhân giống các cây trồng có giá trị với hệ số nhân giống cao tạo ra số lượng lớn cây giống trong thời gian ngắn, cây con được tạo ra sạch bệnh và khỏe mạnh khắc phục được những khuyết điểm của các phương pháp truyền thống. Có một vài tác giả đã nghiên cứu về quy trình nhân giống Qué lan hương (Aerides odorata Lour.) như Devi và ctv (2013) đã tạo được callus từ mảnh mô lá Qué lan hương và hình thành chồi từ callus; Nguyễn Văn Việt va ctv (2016) đã nghiên cứu thành công nhân giống Qué lan hương bằng kỹ thuật nuôi cay in vitro. Tuy nhiên hiện nay trên đối tượng Qué lan hương chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc bổ sung dịch nghiền hữu cơ vào môi trường nuôi cấy in vitro.
Dịch nghiền hữu cơ là nguồn cacbon tự nhiên chứa nhiều vitamin, chất xơ, hormone tự nhiên, protein và khoáng chất có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây (Nguyễn Thị Cúc và ctv, 2014). Do đó, đề tài “Khảo sát môi trường bồ sung dịch nghiền hữu cơ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của chồi Qué lan hương (Aerides odorata Lour.) bang kỹ thuật in vitro” được thực hiện. Mục tiêu đề tài: Xác định được nồng độ chất khử trùng Ca(OCD)a thích hợp đến khả năng tái sinh của Qué lan hương Xác định được môi trường bé sung dich nghiền hữu cơ chuối, cà rốt và củ đậu thích hợp cho chồi Qué lan hương. Xác định được nồng độ NAA thích hợp đến khả năng ra rễ của Qué lan huong.
Nội dung thực hiện: Nội dung 1: Khao sát nồng độ chất khử trùng Ca(OCl)2 đến khả năng tái sinh của Qué lan hương. Nội dung 2: Khao sát ảnh hưởng môi trường bổ sung dịch nghiền hữu cơ củ đậu, cà rốt và chuối đến sự sinh trưởng và phát triển của ch6i Qué lan hương. Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng nồng độ NAA thích hợp đến khả năng tạo rễ Quế lan hương. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về Quế lan hương 2. Phân loại Giới : Plantae Ngành : Tracheophyta Lớp : Liliopsida Bộ : Asparagales Họ : Orchidaceae Chi : Aerides Loài : Aerides odorata Tén goi khac : Qué thang 8, lan Qué trắng, Qué Hòa Bình. Nguồn gốc Quế lan hương thuộc chi Lan Giáng hương (Aerides) một trong khoảng 21 loài lan trên thế giới và được tìm thấy đầu tiên bởi một nhà truyền giáo Joannis de Loureiro người Bồ Đào Nha, ông tìm thấy loài này ở Thừa Thiên Huế (Kocyan và ctv, 2008). Qué lan hương cùng họ với tam bảo sắc, đuôi cáo, sóc lào.
Loài này sống ở các vùng nhiệt đới 4m và cận nhiệt Châu A như Trung Quốc, Lao, Campuchia, Thái Lan. Do có bộ rễ phát triển nên cây đễ thích nghi với môi trường và có sức tăng trưởng mạnh. Ở Việt Nam Qué lan hương phân bố từ Bắc đến Nam: Tam Đảo, Yên Bái, Huế, đèo Hải Vân, Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Tây Nguyên (Nguyễn Ngọc Tuan, 201 1). Đặc điểm thực vật học Qué lan hương thuộc nhóm lan đơn thân có một thân chính và không phân nhánh.
Thân Qué lan hương có màu xanh và được bao phủ bởi be lá, chiều cao thân từ 48,5 — 60 cm, đường kính từ 0,66 — 0,73 cm, thường mọc thành bụi, thân cây mảnh, cây biéu sinh, thân mọc khỏe và nhiều bụi cao đến 1m, đường kính thân khoảng 0,8 — 2 em tùy vào loại cô lá xếp hay lá lướt. Thân có màu xanh trơn hoặc có màu xanh vàng đôi khi có chấm tím nhỏ phụ thuộc vào chế độ sáng. Qué lan hương thuộc dạng lá đơn, thuôn dai, be lá ôm thân, phiến lá dài 20 — 30 cm, rộng 3 — 3,8 cm. Mép lá nguyên, dau lá chia hai thùy không bằng nhau, hệ gân song song, gân chính nổi rõ, các gân bên tạo thành đường song song với gân chính, chìm trong phiến lá, màu nhạt hơn màu của phiến lá.
Màu mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới. Lá mọc cách nhau tạo thành hai dãy đối xứng qua thân. Hoa Qué lan hương tập hợp thành cum tao thành chùm, cụm hoa dài 20 — 42 cm, cong, rủ xuống, mỗi chùm mang 15 - 36 hoa. Hoa có mùi hương của qué rat đặc trưng.
Hoa khi mới nở có màu xanh cốm, rồi chuyên dần sang màu ngà vàng và cuối cùng là màu trắng. Hoa có đường kính nở căng 2,8 — 3,5 cm, đối xứng hai bên. Đài và tràng có màu lục nhạt, dài 1,2 — 1,8 cm. Cánh hoa dài 2,3 — 2,8 cm, mau trang, cuộn lại có hình ống rộng, tận cùng chụm lại thành một cựa cong ra phía trước, màu xanh đậm hơn tràng, chia 3 thùy.
Hoa xuất hiện vào cuối tháng 7 — tháng 8, nở hoa tháng 9 và kết thúc ra hoa đầu tháng 11. Thời gian ra hoa kéo dai 3,5 tháng, với 1 — 2 cụm hoa/cây. Ré Qué lan hương mọc ra từ mau thân, xen kẽ với lá và buông rủ trong không khí, hình thái rễ chia thành hai phần rõ rệt: phần rễ màu xám trắng chiếm hầu hết diện tích của rễ và phần đầu rễ có màu xanh lục với những rễ dang phát triển hoặc có màu nâu đỏ khi rễ tạm ngừng sinh trưởng. Qué lan hương thuộc kiểu rễ bì sinh (còn gọi là biểu sinh, phụ sinh) (Phùng Thị Thu Hà và ctv, 2023).
Quả nang hình trụ ngắn phình ở giữa, có 3 — 6 đường nứt đọc. Khi chính quả nở ra, mảnh vỏ còn dính lại ở phía đỉnh và phía gốc. Khoảng 5 — 6 tháng thì qua chín. Hat lan nhiều, nhỏ liti, chưa phân hóa, xốp, không khí chiếm khoảng 76 — 96% thé tích của vỏ hạt.
Trong tự nhiên, phần lớn hạt đều chết đo phải cần có nắm cộng sinh hỗ trợ chất dinh dưỡng dé hạt nay mam, để nảy mam trong môi trường tự nhiên, hạt lan cần phải gap một loại nam rễ đặc biệt và có thé phụ thuộc vào một loại nam khác ở giai đoạn sống tiếp theo. Mối quan hệ cộng sinh giữa hoa lan và nắm đóng một vai trò thiết yêu trong quá trình nảy mam của hạt và sự phát triển của cây con (Ngô Thị Nguyệt và ctv, 2013; Franceschi và ctv, 2019). Điều kiện sinh thái Nhiệt độ: cây phát triển mạnh trong môi trường am áp và âm ướt với nhiệt độ từ 17°C đến 30°C. Độ ẩm: Qué lan hương cần độ âm cao khoảng 70%.
Cần phải tưới nước thường xuyên, tưới vào sáng sớm hoặc chiều tối khi ánh nắng dịu. Ánh sáng: loài cây ưa nang nhưng ánh sáng phải vừa phải hoặc bóng ram. Khi ánh nẵng quá nhiều lá cây sẽ vàng, ánh sáng ít lá cây có màu xanh đậm, không ra hoa. Kỹ thuật nhân giống in vitro 2.
Giới thiệu về kỹ thuật nhân giống in vitro Nuôi cấy mô là thuật ngữ dùng dé chỉ quá trình nuôi cấy vô tring in vitro các bộ phận tách rời khác nhau của thực vật. Kỹ thuật nuôi cay mô dùng cho cả hai mục đích nhân giống và cải thiện di truyền (vi dụ: giống cây trồng), sản xuất sinh khối các sản phẩm hóa sinh, bệnh học thực vật, duy trì và bảo quản các nguồn gen quý. Nuôi cấy trong điều kiện vô trùng bằng cách đặt các mô vào ống nghiệm có môi trường dinh dưỡng phù hợp. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho nhiều loại cấu trúc thực vật, từ những cau trúc có tổ chức như đỉnh sinh trưởng, chỗi bat định, phôi cho đến những cấu trúc không có tô chức như mô sẹo, dịch huyền phù, tế bào trần.
Haberlandt (1902) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp nuôi cấy tế bào thực vật dé chứng minh cho tính toàn thé của tế bao. Theo ông mỗi một tế bào bat kỳ của một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng đề phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh.