Đặt vấn đề Lan Kim Tuyến - Anoectochilus roxburghii (Wall) Lindl, thuộc họ lan – Orchidaceae (Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2004) [1]. Chúng thường phân bố khá rộng ở độ cao từ 500-1600m, xuất hiện nhiều ở những nơi đất giàu mùn, độ ẩm, độ xốp cao, thoáng khí. Đôi khi chúng xuất hiện cả trên các tảng đá ẩm, các đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây trên các đoạn thân cây gỗ mục. Lan Kim Tuyến được biết đến nhiều bởi giá trị dược liệu, là một loại dược liệu quý dùng để điều trị một số bệnh như: đau ngực, đau bụng, tiểu đường, viên thận, sốt, liệt dương…và các bệnh về tim mạch đặc biệt lan Kim Tuyến có khả năng tiêu diệt các khối u (Chun-Nian và cs, 2006) [15], (Shu- Fen Cheng và cs, 2009) [21].
Hiện nay với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cùng với sự khai thác ồ ạt mà không chú ý đến việc bảo vệ và tái sinh làm cho lan Kim Tuyến vốn phân bố khá phổ biến ngoài tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng. Chính vì vậy lan Kim Tuyến được đưa vào danh mục sách đỏ Việt Nam (2007) và nghiêm cấm khai thác với mục đích thương mại theo Nghị định số 32/2006/NĐ – CP thuộc nhóm IA, (2007), phân hạng EN A1a,c,d (Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2004) [1], (Chính Phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2006) [2]. Theo phương pháp nhân giống cổ truyền lan Kim Tuyến được nhân giống bằng cách gieo hạt, tách mầm nhưng những phương pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm như mất thời gian, nguồn vật liệu ban đầu cần nhiều, hệ số nhân thấp, dễ bị thoái hóa qua nhiều thế hệ, khả năng lây truyền bệnh cao, chất lượng cây không đảm bảo, việc nhân giống mang tính thời vụ. Nhưng hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc ứng dụng nuôi cấy e 2 mô tế bào thực vật trong nhân giống đã trở lên phổ biến.
Nuôi cấy mô tạo ra cây trồng sạch bệnh, chất lượng tốt, độ đồng đều cao, hệ số nhân lớn và giữ được tính di truyền của cây mẹ. Nhận thức được vấn đề bảo tồn và phát triển loài dược liệu quý – lan Kim Tuyến, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao hệ số nhân giống lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật”. Mục đích của đề tài Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao hệ số nhân giống lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Yêu cầu của đề tài Xác định ảnh hưởng của hàm lượng, thời gian khử trùng bằng dung dịch HgCl2 đến hiệu quả vô trùng vật liệu nuôi cấy chồi lan Kim Tuyến.
Xác định ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích sinh trưởng (GA 3, BA) đến khả năng tái sinh chồi lan Kim Tuyến. Xác định ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích sinh trưởng (BA, NAA, Kinetin) đến khả năng nhân nhanh chồi lan Kim Tuyến. Xác định ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích sinh trưởng (NAA) đến khả năng ra rễ chồi lan Kim Tuyến. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống lan Kim Tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Giúp sinh viên biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân tích số liệu, trình bày một bài báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cho kỹ thuật nhân giống lan Kim Tuyến, nhân nhanh cây giống sạch bệnh, chất lượng đảm bảo và bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Thực hiện đề tài giúp sinh viên hoàn thiện về cả kiến thức lý thuyết và thực tiễn, mang lại những kinh nghiệm và tác phong làm việc khoa học cho công tác sau này.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây lan kim tuyến 2. Phân loại Lan Kim Tuyến được phân loại như sau: Giới (regnum) Plantae Ngành (phylum) Magnoliophyta Lớp (class) Liliospida Bộ (ordo) Asparagales Họ (Family) Orchidaceae Chi (genus) Anoectochilus Loài (species) Roxburghii 2. Đặc điểm hình thái 2.
Đặc điểm nhận dạng Lan Kim Tuyến có dạng thân thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước và có nhiều lông mềm, mang 2-4 lá mọc xòe sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3-4 x 2-3 cm, có màu khác nhau với mạng gân thường nhạt hơn (màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ với mạng gân màu vàng - lục hay hồng); cuống lá dài 2-3 cm. Cụm hoa dài 10-15 cm, mang 4-10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, chóp thót nhọn đột ngột, dài 8-10 mm, màu hồng.
Hoa thường màu trắng, dài 2,5-3 cm; các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; môi dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6-8 dải hẹp, chóp phiến rộng, chẻ hai sâu, hốc chứa mật dài 7 mm, bầu dài 1,3 cm, màu lục, có nhiều lông mềm (Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2007) [1].1: Ảnh lan Kim Tuyến 2. Đặc điểm thân rễ Thân rễ nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài. Chiều dài thân dễ từ 5-12 cm, trung bình là 8,5 cm. Đường kính thân rễ từ 2,5-3,5 mm, trung bình là 3,28 mm.
Số lóng trên thân rễ từ 3-7 lóng, trung bình là 4,03 lóng. Chiều dài của lóng từ 1-5 cm, trung bình là 2,14 cm. Thân rễ thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông (Phùng Văn phê và cs, 2009) [7]. Đặc điểm thân khí sinh Thân khí sinh thường mọc thẳng đứng trên mặt đất, ít khi mọc nghiêng.
Chiều dài thân khí sinh từ 3-7 cm, trung bình 5,63 cm. Đường kính thân khí sinh từ 2,5-3,5 mm, trung bình là 3,09 mm. Thân khí sinh mang nhiều lóng, các lóng có chiều dài khác nhau. Số lóng trên thân khí sinh thay đổi từ 2-5 lóng, trung bình là 3,07.
Chiều dài mỗi lóng từ 1,5-4 cm, trung bình 1,87 cm. Thân khí sinh thường mọng nước, nhẵn, không phủ lông; thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt. Đặc điểm của rễ Rễ được mọc ra từ các mẫu trên thân rễ. Đôi khi rễ cũng được hình thành từ thân khí sinh.
Rễ thường đâm thẳng xuống đất. Thông thường mỗi mấu chỉ có một rễ, đôi khi có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên thân rễ. Số lượng và kích thước rễ cũng rất thay đổi tuỳ theo cá thể. Số rễ trên một cây thường từ 2-9 rễ, trung bình là 5,2.
Chều dài của rễ thay đổi từ 1-9 cm, rễ dài nhất trung bình là 6,37 cm và ngắn nhất trung bình là 1,04 cm, chiều dài trung bình của các rễ trên một cây là 4,07 cm (Phùng Văn Phê và cs, 2009) [7]. Đặc điểm của lá Số lượng lá trên một cây thay đổi từ 2-6 chiếc, thông thường có 4 lá. Lá mọc cách xoắn quanh thân, xoè trên mặt đất. Lá có hình trứng hoặc gần tròn ở gốc, đầu lá hơi nhọn.
Kích thước của lá cũng thay đổi, thường dài từ 3-5 cm, trung bình là 3,87 cm và rộng của lá từ 2-4 cm, trung bình là 2,93 cm. Các lá trên một cây thýờng có kích thýớc khác nhau rõ rệt. Chiều rộng trung bình của các lá trên một cây là 2,5 cm (Phùng Văn Phê và cs, 2009) [7]. Đặc điểm phân bố Phân bố theo kiểu rừng: Lan Kim Tuyến phân bố hầu hết ở rừng kín lá rộng, rừng thường có cấu trúc hai tầng gỗ.
Phân bố theo trạng thái rừng: Đặc điểm của cây bụi và thảm tươi ở khu vực lan Kim Tuyến phân bố là thưa thớt, độ che phủ khoảng 15-30%, độ cao của lớp cây bụi và thảm tươi khoảng từ 0,1-0,5m tùy từng khu vực. Lan Kim Tuyến thường ít phân bố ở những nơi cây bụi, thảm tươi dày đặc. Chúng có thể nằm ngay trên lớp thảm mục của rừng đang bị phân hủy. Phân bố theo sinh cảnh: Lan Kim Tuyến chủ yếu phân bố trên đất, chúng mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn, độ ẩm, độ xốp cao, thoáng khí, thậm chí ngay trên lớp thảm mục của rừng đang phân hủy.
Đôi khi chúng e 7 mọc trên các tảng đá ẩm, trên các đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây trên các đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây. Có thể bắt gặp lan Kim Tuyến ở trong rừng nơi ẩm ướt, ven các khe suối, dưới tán rừng cây gỗ lớn, hoặc dưới rừng trúc, rừng sặt, trên đường mòn đi lại trong rừng. Phân bố theo địa lý, địa hình: Phân bố hầu hết các dạng địa hình, như chân núi, sườn núi, đỉnh núi. Phân bố theo đai cao: Lan Kim Tuyến thường phân bố ở đai cao trên 735m, tập chung chủ yếu ở độ cao trên 970m.
Ở Việt Nam lan Kim Tuyến có phổ phân bố khá rộng bao gồm các tỉnh: Lào Cai (Sapa: Phăng Xi Păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh (Hương Sơn: Rào àn), Quảng Trị, Kontum (Đắk Glei: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Krông Bông: núi Chư Yang Sinh), Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bì Đúp) (Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2007) [1]. Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia (Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2007) [1]. Số lượng quần thể Trên thế giới chi lan Kim Tuyến có khoảng 30-40 loài phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới từ Ấn Độ tới các dãy núi ở Đông Nam Á, Nhật Bản. Chang và cs, 2007) [16].
Theo Averyanov (2008), Việt Nam đã phát hiện được 7 loài lan Kim Tuyến thuộc chi Anoectochilus, trong đó loài A. Roxburghii này có giá trị thương mại xuất khẩu cao nhất, gấp hàng chục lần các loài khác. Giá trị của lan Kim Tuyến 2. Giá trị kinh tế Hiện nay lan Kim Tuyến ngoài tự nhiên đã bị thu hái đến mức cạn kiệt do có rất nhiều tác dụng dược liệu và làm cây cảnh.
Giá bán trên thị trường thế giới của lan Kim Tuyến khô là 3.200USD/kg, cây tươi có giá từ 300- e 8 320USD/kg, nếu được thu hái trong tự nhiên, đặc biệt có nấm cộng sinh ở rễ thì giá này sẽ cao hơn rất nhiều (Doris C. Chang và cs , 2007) [16]. Cây giống lan Kim Tuyến có thể tạo từ nhân in vitro các mắt đốt thân, hạt giống và các bộ phận sinh dưỡng của cây. Tuy nhiên sự sinh trưởng khác của cây lan Kim Tuyến in vitro chậm, kéo dài thời gian nhân giống.
Hiện nay nhiều nước chủ yếu sản xuất cây lan Kim Tuyến từ nuôi cấy hạt in vitro. Trung Quốc , Đài Loan, Nhật Bản đã trồng và xuất khẩu lan Kim Tuyến mang lại nguồn thu lớn.