Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho thiết kế nghiên cứu. Chương này bao gồm ba phần chính. Đầu tiên, là tóm tắt lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: hiệu quả làm việc, mạng xã hội, hành vi sáng tạo và sự gắn kết với tổ chức, kế đó là tổng quan về mối quan hệ giữa các khái niệm có liên quan và cuối cùng là đề xuất mô hình nghiên cứu.
Khái niệm về hiệu quả làm việc, mạng xã hội, hành vi sáng tạo và sự gắn kết với tổ chức 2. Khái niệm về hiệu quả làm việc Nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu tìm kiếm nhiều cách thức khác nhau để nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên. Đây là một lĩnh vực được sự quan tâm rất nhiều đối với tổ chức và các nhà nghiên cứu. Hiệu quả làm việc của nhân viên được xác định như một tiêu chí đánh giá khả năng và kết quả công việc của nhân viên.
Hiệu quả làm việc ám chỉ đến “những hành vi hoặc hành động liên quan đến mục tiêu của tổ chức đề ra” (McCloy, Campell, & Cudeck, 1994, tr. Hiệu quả làm việc là biến đa chiều, trong đó mỗi công việc có những yếu tố hiệu quả riêng biệt (McCloy và cộng sự, 1994). Hiệu quả làm việc thường được đo lường bằng những thang đo mang tính chủ quan như tự báo cáo và đánh giá giám sát. Trong nghiên cứu phân tích tổng hợp của Mabe và West (1982) cho rằng thang đo tự báo cáo về hiệu quả có giá trị cao hơn thông thường.
Một vài nghiên cứu khác lại sử dụng thang đo khách quan về tính hiệu quả, thang đo này được định nghĩa bởi Bommer, Johnson, Rich, Podsakoff và MacKenzie (1995) như “những thang đo trực tiếp của những hành vi đếm được hoặc là những kết quả”. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, thang đo chủ quan về tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hiệu quả được sử dụng dựa trên thang đo nghiên về hiệu quả công việc của Rehman (2011) và Rehman và Waheed (2011). Khái niệm về mạng xã hội Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Theo Boyd và Ellison (2007) định nghĩa, mạng xã hội là "các dịch vụ dựa trên web cho phép cá nhân xây dựng một hồ sơ công khai hoặc công khai trong một hệ thống giới hạn, công khai một danh sách các người dùng khác mà họ đã có mối quan hệ, có thể xem và đi qua danh sách các kết nối được tạo ra bởi những người khác trong hệ thống của họ”.
Mọi người bắt đầu nhận ra rằng mạng xã hội có thể là nguồn tài nguyên tuyệt vời đối với lợi ích kinh doanh. Dự báo rằng mạng xã hội của Web 2.0, “sẽ thay thế email, tin nhắn, và các chương trình kết hợp như Microsoft SharePoint” trong một tương lai không xa (Wavecrest, 2006, tr. Ở góc độ nhân sự, doanh thu là vấn đề cốt yếu ảnh hưởng đến các tổ chức. Kết quả khảo sát của IBM Institute for Business Value and the Economist Intelligence Unit đã cho thấy hơn 75% nhà điều hành nhân sự đến từ 40 quốc gia khác nhau lo ngại về việc thu hút, phát triển, và giữ chân các nhà lãnh đạo tương lai (IBM, 2008).
Mối quan tâm này nổi lên như lãnh đạo tương lai và người lao động thuộc thế hệ Y. Thế hệ đặc biệt được mô tả như là tin nhắn (texting), di động, hiểu biết về web, thế hệ này đòi hỏi truy cập thường xuyên vào mạng xã hội. Nhóm cho lứa tuổi này, “viết blog, nhắn tin nhanh, phương tiện truyền thông xã hội, truyền thông tin nhanh chóng và mạng xã hội tự nhiên”. Khi các nhóm tuổi tăng trong các công ty trên thế giới, họ sẽ mang lại nhiều thói quen và nó sẽ làm thay đổi cách thức kinh doanh đang có.
Mạng xã hội có thể được sử dụng để giải quyết các vấn đề về nhân lực bằng cách xây dựng những “giao tiếp bên trong và bên ngoài”, “tuyển dụng người nghỉ hưu” (Leader-Chivée & Cown, 2008, tr. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc hội nhập, việc sử dụng mạng xã hội vào trong tất cả các bộ phận chức năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của tổ chức (Brodkin, 2008). Leader-Chivée và Cowan (2008) đã chỉ ra lợi ích của mạng xã hội khi hình thành những cộng đồng của người nghỉ hưu và cựu sinh viên, kể cả việc tận dụng tài năng và khuyến khích họ quay lại công ty. Thực tế, nghiên cứu chỉ ra rằng người nghỉ hưu tạo ra 300% năng suất so với người mới (Leader- Chivée & Cowan, 2008).
Leidner và các cộng sự (2010) cũng nhận thấy nhân viên truy cập Facebook tại nơi làm việc là động lức lớn cho người nhân viên mới vì họ có thể kết nối với gia đình, bạn bè, và các thành viên khác tại nơi làm việc. Sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc có thể là phương tiện giao tiếp quan trọng giữa các cổ đông bên trong và bên ngoài công ty, nó có thể truyền tải những thông tin hiểu biết và là phương tiện giao tiếp (Bennett và cộng sự, 2010; Leader- Chivée & Cowan, 2008). Phương tiện giao tiếp mạng xã hội có thể cung cấp cho người sử dụng bao gồm: thư, chia sẻ tập tin, blog, tin nhắn nhanh, các nhóm thảo luận và trò chuyện mà không có giới hạn. Những phương tiện ấy giúp cho nhân viên truy cập những nguồn tài nguyên mới, địa chỉ liên lạc và các thông tin, cũng như duy trì và nuôi dưỡng mạng lưới chuyên nghiệp, giống như phần lớn việc kinh doanh dựa vào nhóm và các dự án liên quan.
Một số ngành nghề kinh doanh bao gồm du lịch, giải trí, quảng cáo và những dịch vụ khác liên quan đến kinh doanh đã ưu tiên việc sử dụng mạng xã hội và chấp nhận nó tại nơi làm việc (Isheriff, 2010). Không phải công ty nào cũng cho phép sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc. Thật ra, 23% công ty không cho phép nhân viên sử dụng mạng xã hội (Brodkin, 2008). Tuy nhiên, với sự ra đời của điện thoại thông minh, thật khó khăn để các công ty chặn truy cập mạng xã hội.
Trên thực tế, cấm sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc có thể gặp những hậu quả kinh doanh không có lợi như: nhân viên không khám phá ra các cơ hội kinh doanh, thu thập tin tức, và cộng tác làm việc (Bennett và cộng sự, 2010). Theo Howe cho rằng truy cập vào “đám đông khôn ngoan” cho ý tưởng và giải pháp thì được thay thế “sử dụng ưu thế đám đông” (crowdsourcing) (Howe, 2008). Lợi ích khác của việc sử dụng mạng xã hội là kinh doanh thông minh. Sử dụng các công cụ phân tích, các công ty có thể chuyển đổi mạng xã hội như: Facebook, Twitter vào nguồn thông tin nghiên cứu thị trường, ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đó các nhà kinh doanh sẽ biết được xu hướng chẳng hạn như: thông tin về tương tác của khách hàng đối với họ cũng như đối với sản phẩm và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh (Wilson, 2009).
Một trong những lợi ích của việc sử dụng mạng xã hội trong kinh doanh là sử dụng những nhóm khách hàng cho nghiên cứu thị trường để có phản hồi về sản phẩm và những tính năng, nó có thể là nguồn gốc của sự đổi mới trong quá trình phát triển sản phẩm (Bughin, 2009; Parameswaran & Whinston, 2007). Những nhóm khách hàng ấy có thể được giới thiệu, đánh dấu, phê bình những sản phẩm, chẳng hạn trong trường hợp dùng Facebook, khách hàng ấn vào nút “thích” (Like). Có nhiều nghiên cứu về lợi ích của mạng xã hội tại nơi làm việc, ví dụ như Bennett và cộng sự (2010) đã có báo cáo về lợi ích của việc sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc có thể bao gồm việc nâng cao kiến thức của tập thể, cải thiện kiến thức, làm tăng năng suất, nâng cao tinh thần (Leidner và cộng sự, 2010). Bughin (2009) còn đề cập tới sự hài lòng của nhân viên là một trong những lợi ích kinh doanh khi dùng mạng xã hội, nhưng Patel và Jasani (2010) cũng nhấn mạnh đến lợi ích khác như là sự hợp tác của các ý tưởng.
Một số công ty sử dụng mạng xã hội để vượt qua các thách thức như khoảng cách địa lý và nâng cao hành vi sáng tạo. Ví dụ, IBM đã thành lập mạng xã hội nội bộ gọi là Beehive, cho phép “hoạt động như tổ chức sự kiện, chia sẻ hình ảnh, và thảo luận nhóm, để giúp nhân viên xây dựng mối quan hệ trên nhiều vị trí khác nhau của tổ chức trên toàn thế giới” (Leader-Chivée & Cowan, 2008, tr. Leidner và cộng sự (2010, tr.229) đưa ra một ví dụ khác về việc làm thế nào để mạng xã hội có thể giúp nhân viên mới hòa nhập vào bộ phận IT và ý thức hơn về văn hóa và nâng cao tinh thần giữa các nhân viên của thế hệ Y, đặc biệt là đối với nhân viên IT mới vào. Thêm một ví dụ về sự thành công của mạng xã hội là cầu nối khoảng cách giữa công ty và nhân viên là công ty Best Buy, công ty đã khởi xướng mạng nội bộ công ty để kết nối nhân viên từ các cửa hàng bán lẻ khác nhau, họ có thể đặt câu hỏi và chia sẻ những thông tin với nhau (Li & Bernoff, 2008).
Mạng xã hội không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chỉ giúp Best Buy xóa khoảng cách địa lý mà còn làm tăng tỷ lệ doanh thu hơn 50% (Li & Bernoff, 2008). Các trang mạng xã hội giống như các phương tiện truyền thông khác như ti vi, đài, báo và điện thoại, nó được các công ty sử dụng để giao tiếp với khách hàng. Mạng xã hội là phương tiện giao tiếp nhanh chóng hơn vì thông tin được đăng và có thể khôi phục một cách nhanh chóng, phản hồi cũng có thể được trao đổi dễ dàng giữa các công ty và khách hàng của họ (Patel & Jasani, 2010). Tuy nhiên, các kênh mạng xã hội chỉ là sự bổ sung chứ không phải thay thế hoàn toàn cho những phương tiện truyền thông truyền thống (Nielsen, 2009).
Mặt khác, mạng xã hội được sử dụng trong lĩnh vực tiếp thị, quảng cáo và đặc biệt là xây dựng thương hiệu.