CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Cây trồng nói chung và cây rau nói riêng luôn tồn tại cơ chế điều hòa các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Cơ chế này do các chất điều hòa sinh trưởng có trong cây, nó điều chỉnh các hoạt động sinh lý cũng như sự hình thành các cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ có tác dụng quyết định tới năng suất thu hoạch.
Năng suất, chất lượng sản phẩm thu hoạch của cây rau phụ thuộc vào giống, khả năng sinh trưởng phát triển và sự tác động của điều kiện tự nhiên cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác. Biện pháp kỹ thuật hợp lý có tác động rất lớn đến cây trồng phát triển được tiềm năng năng suất, thậm chí nâng cao chất lượng sản phẩm thu hoạch. Ngược lại, nếu tác động không hợp lý sẽ gây thiệt hại không nhỏ trong sản xuất. Vậy cần có biện pháp điều chỉnh quá trình sinh trưởng phát triển của cây nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch.
Đặc biệt, cây rau xà lách là loại cây trồng ăn lá, việc tăng sinh khối có ý nghĩa quan trọng. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao năng suất chất tươi luôn được quan tâm. Một trong những giải pháp đó là sử dụng chất điều hòa sinh trưởng, trong đó Gibberellin (GA3) được nghiên cứu rộng rãi trên một số cây trồng, đặc biệt là trên các loại rau ăn lá. Các nghiên cứu đều khẳng định, khi sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng với nồng độ thấp sẽ có tác dụng kích thích sự sinh trưởng, tăng lượng chất khô dự trữ, nên làm tăng sản phẩm thu hoạch.
Trong lĩnh vực ứng dụng này có thể sử dụng các chất như gibberellin (GA3), axit -∝ naphtin axêtic (∝-NAA). Ðặc biệt sử dụng GA3 đem lại hiệu quả cao đối với những cây lấy sợi, lấy thân lá vì nó có tác dụng lên toàn bộ cơ thể cây làm tăng chiều cao cây và chiều dài của các bộ phận của cây. Các kết quả nghiên cứu cho thấy phun dung dịch GA3 nồng độ 20 - 50 ppm cho cây đay có thể làm tăng chiều cao gấp đôi mà chất lượng sợi đay 4 không kém hơn. Ðối với các cây rau việc tăng sinh khối có ý nghĩa quan trọng, người ta thường phun GA3 cho bắp cải, rau cải các loại với nồng độ dao động trong khoảng 20 -100 ppm làm tăng năng suất rõ rệt.
Tuy nhiên, tùy theo từng loại rau mà có nồng độ xử lý khác nhau [18]. Trên cây xà lách, một số kết quả nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy phun GA3 ở nồng độ từ 20 – 30 ppm cho năng suất cao nhất, tùy theo điều kiện canh tác và đất đai, tuy nhiên cũng chưa đưa ra được nồng độ cụ thể và tối ưu. Tại Quảng Nam, tại các vùng trồng rau cũng chưa có kết quả nghiên cứu về việc xử lý GA3 trên rau xà lách. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xử lý GA3 trên cây xà lách tại Quảng Nam cần phải đặt ra.
Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tài liệu bổ sung cho việc sử dụng GA3 trên các loại rau. Đồng thời có thể áp dụng vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người trồng rau. Sơ lược về cây xà lách 1. Nguồn gốc, phân loại 1.
Nguồn gốc Xà lách là tên gọi được đọc sang tiếng Việt, xuất phát từ sự phát âm tiếng Anh là Salad. Đây là loại cây ôn đới thuộc họ Cúc, thường được trồng chủ yếu dùng để làm rau ăn sống và cùng với các loại rau gia vị khác là món ăn phổ biến ở nước ta và các nước trên thế giới. Theo nghiên cứu của Ryder và Whitaker, xà lách có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và sau đó được du nhập ra khắp thế giới. Đặc biệt, xà lách được phát triển rộng rãi và có mặt trong nền văn minh của La Mã và Hy Lạp cổ đại, sau đó phát triển sang Tây Âu và các nước khác.
Các dấu hiệu sớm nhất cho thấy xà lách đã tồn tại cách đây hơn 4500 năm trước Công nguyên thông qua các hình khắc trên mộ cổ ở Ai Cập. Phân loại - Ngành Hạt kín: Angiospermatophy - Lớp Hai lá mầm: Dicotyledoneae - Bộ Cúc: Asterales - Họ Cúc: Asteraceae 5 - Chi: Lactuca - Loài: Lactuca sativa L. Đặc điểm sinh học của cây xà lách - Bộ rễ: Xà lách có bộ rễ chùm phát triển mạnh. Trên rễ chùm còn có các rễ phụ.
Bộ rễ làm nhiệm vụ giữ cây, bám chắc đất, hút nước và các chất dinh dưỡng nuôi cây. Bộ rễ ăn nông 10-15cm, phân bố hẹp, phát triển nhanh, tái sinh mạnh nên thường gieo cây con sau đó nhổ đi trồng. Rễ xà lách ưa ẩm, chịu úng tốt hơn chịu hạn. - Thân: xà lách thuộc loại thân thảo, mềm, ngắn, không phân nhánh.
Thân là nơi kết nối giữa bộ rễ và lá, vận chuyển chất khoáng do bộ rễ hút lên và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây. Thân xà lách giòn, dịch trắng như sữa trong thân tiết ra có thể dùng làm thuốc trong y học. Thời gian đầu thân phát triển rất chậm nhưng ở giai đoạn sau khi cây đạt cao nhất về sinh khối, thân cây phát triển cao vống rất nhanh và bắt đầu ra hoa. - Lá: Lá xà lách thường mọc dày trên trục thân với số lượng lớn, lá sắp xếp trên thân hình xoắn ốc.
Lúc đầu, mật độ lá rất dày, giai đoạn sau mật độ lá thưa dần. lá ngoài có màu xanh đậm, xanh hoặc xanh nhạt, lá trong có màu xanh nhạt, xanh trắng hoặc trắng ngà. Các lá phía trong mềm, chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn các lá ngoài. Bề mặt lá không phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính di truyền của loài.
Lá làm nhiệm vụ chủ yếu là tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây. - Hoa: Chùm hoa dạng đầu, mang số lượng hoa lớn. Hoa mẫu có 5 đài, tràng, nhị nhưng có hai lá noãn (nhụy hoa). Tự thụ phấn rất cao, hạt phấn và noãn luôn luôn có độ hữu thụ cao.
Công thức cấu tạo của hoa: K5C5A5G2. - Quả và hạt: Quả xà lách thuộc loại quả bế đặc trưng và hạt không có nội nhũ. Hạt hơi dài và dẹt, có màu nâu vàng. Độ nảy mầm tương đối cao, đạt 80- 90%.
Giá trị của cây xà lách Xà lách là một loại rau xanh quen thuộc và giàu dinh dưỡng. Bên cạnh đó, rau xà lách còn có nhiều tác dụng trong cải thiện, hỗ trợ sức khỏe. 6 Trong Đông y, xà lách được biết đến là một loại rau có vị ngọt đắng, tính mát, tác dụng giải nhiệt, lọc máu, kích thích tiêu hóa, giảm đau, chống ho… Theo nghiên cứu của khoa học hiện đại, trong 100g xà lách có khoảng 2,2g cacbohidrate, 1,2g chất xơ, 90g nước, 166mg vitamin A, 73g Folate. Ngoài ra, đây là một loại rau giàu chất sắt, canxi, kẽm, đồng, kali, vitamin C… Ngoài ra, trong xà lách còn có nhiều muối khoáng với các nguyên tố kiềm cùng một lượng khá cao magie, nhờ đó giúp cơ thể tỉnh táo, giảm stress, tăng cường chức năng não và các mô cơ.
[9] Ngoài tác dụng bảo vệ, cải thiện sức khỏe, xà lách còn được phái đẹp lựa chọn trong làm đẹp, ăn kiêng, giảm cân. Bên cạnh đó, xà lách còn là vị thuốc hỗ trợ phái mạnh ngăn chặn xuất tinh sớm, cải thiện tình trạng hói sớm do rụng tóc. Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đối với cây xà lách 1. Nhiệt độ Xà lách là cây ưa lạnh, truy nhiên qua quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa, ngày nay xà lách có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau.
Xà lách sinh trưởng, phát triển tốt ở 8- 250 C, nhiệt độ thích hợp nhất là 13-160 C. Ở 250 C, xà lách vẫn sinh trưởng tốt nhưng lá không cuộn, cứng và nhiều nhựa. Ánh sáng Ánh sáng là yếu tố quan trọng cho sự sống của cây. Đối với xà lách, ánh sáng thích hợp là ánh sáng vùng cận nhiệt đới với cường độ khoảng 17000 Lux và thời gian chiếu sáng khoảng 16giờ/ ngày.
Cường độ chiếu sáng 17000 Lux không chỉ ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp chất hữu cơ và giúp cây tăng nhanh sinh khối mà còn ảnh hưởng đến sự hình thành nụ hoa. Để xà lách ăn lá sinh trưởng bình thường và cho năng suất cao cần thời gian chiếu sáng từ 10 đến 12 giờ. Chế độ nước Do có bộ lá lớn và tốc độ thoát nước cao nên xà lách rất cần nước cho sự phát triển. Tuy nhiên, nếu mưa kéo dài hay đất bị ngập úng sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của cây xà lách.
Độ ẩm thích hợp 70-80%. Đất và chất dinh dưỡng Xà lách có bộ rễ chùm, ăn nông, không kén đất nhưng yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước tốt, pH 5,8- 6,6 và yêu cầu hàm lượng dinh dưỡng cao. Sau trồng 30- 50 ngày có thể thu hoạch được nên đòi hỏi phân dễ tiêu. Cần bón lót các loại phân hữu cơ chủ yếu như phân chuồng hoai mục, bánh dầu đậu phộng… để làm tăng chất lượng.
Bón phân vô cơ NPK 16:16:18 sẽ thích hợp để cây phát triển nhanh, tăng năng suất. Quy trình canh tác Xà lách là loại rau ăn sống phổ biến, chất lượng rau ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, do đó người trồng rau cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình trồng rau an toàn đối với các loại rau ăn sống. Giống xà lách - Ngoài các giống xà lách địa phương còn có thể sử dụng giống xà lách của các công ty Đại địa, Công ty giống cây trồng miền Nam. Thời gian từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch khoảng 45- 50 ngày.
- Lượng hạt giống từ 90-100g/ sào. - Xà lách có 2 loại: + Xà lách trứng: lá trắng, chịu được mưa nắng, cuốn chắc. + Xà lách li ti: lá xanh, tán lớn, ít cuốn, xốp, chịu úng. Thời vụ trồng Xà lách có thể trồng được quanh năm nhưng thông thường vụ Đông – Xuân cho năng suất cao (từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau).
Vào mùa mưa rất khó trồng do mưa nhiều, do đó cần có giàn che hạn chế mưa. Làm đất Xà lách có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng mọc tốt nhất là đất tơi xốp, màu mỡ, thoát nước tốt. Đất trồng phải được chuẩn bị kĩ, làm sạch cỏ dại và các tàn dư cây trồng thuộc vụ trước. Cày phơi ải khoảng từ 3 đến 5 ngày trước khi lên luống.
Lên luống có bề rộng khoảng 0.