Đặt vấn đề Việt Nam vừa thoát khỏi nƣớc nghèo và trở thành nƣớc đang phát triển. Để đáp ứng đƣợc đƣợc tiêu chí đó, Chính phủ đã huy động toàn nguồn lực để đầu tƣ cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, khu đô thị, khu dân cƣ bằng nhiều nguồn vốn khác nhau nhƣ: Vốn ngân sách Nhà nƣớc, vốn vay ODA, vốn doanh nghiệp nhà nƣớc, vốn công ty cổ phần, vốn doanh nghiệp tƣ nhân,… để thực hiện xây dựng các dự án làm động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội trong nƣớc và hội nhập cùng các nƣớc trên thế giới. Ở trong nƣớc một số dự án trọng điểm của quốc gia đã đƣợc đầu tƣ xây dựng nhƣ: Dự án nâng cấp Quốc lộ 38 thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh và Hải Dƣơng [1] dự kiến phải hoàn thành 30/4/2016, nhƣng đến nay công tác giải phóng mặt bằng tại địa bàn các huyện của Hải Dƣơng chậm khiến nhiều đoạn trên tuyến đƣờng này không thể thi công, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tiến độ dự án; Dự án cao tốc Thái Nguyên – Chợ Mới (Bắc Kạn) và nâng cấp mở rộng Quốc lộ 3 đoạn Km75-Km100 [2] phải hoàn thành trƣớc ngày 30/8/2016. Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng vẫn ngỗn ngang, nguy cơ dự án “vỡ” tiến độ đang hiện hữu; Dự án cải tạo nâng cấp đƣờng cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ [3] hoàn thành giai đoạn 1 vào ngày 30/6/2015 và tiếp tục triển khai giai đoạn 2.
Theo kế hoạch dự án sẽ hoàn thành và đƣa vào khai thác vào cuối năm 2017. Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng chậm khiến dự án đang có nguy cơ “vỡ” tiến độ. Ở Kiên Giang, một số dự án chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng chậm, cụ thể nhƣ sau: Dự án nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá [4] theo kế hoạch hoàn thành xây dựng dự án trƣớc ngày 31/12/2017, nhƣng đến nay công tác giải phóng mặt bằng chậm, hiện vẫn còn 65 hộ dân chƣa di dời bàn giao mặt bằng để thi công; Dự án đầu tƣ xây dựng công trình đƣờng giao thông và khu dân cƣ Phan Thị 1 Ràng, thành phố Rạch Giá [5] theo kế hoạch của dự án sẽ hoàn thành 12/2014, nhƣng đến nay vẫn 05 hộ dân chƣa di dời bàn giao mặt bằng thi công nên ảnh hƣởng đến tiến độ dự án; Dự án đầu tƣ xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật Trung tâm thƣơng mại Rạch Sỏi, Bến xe tỉnh và Khu dân cƣ huyện Châu Thành [6], theo kế hoạch dự án sẽ hoàn thành ngày 31/12/2015, nhƣng đến nay vẫn còn vƣớng 25 hộ chƣa di dời bàn giao mặt bằng làm chậm tiến độ chung của dự án. Với những thực trạng chậm tiến độ xây dựng của các dự án nêu trên, đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến chậm tiến độ xây dựng”, nhằm đƣa ra những giải pháp để giải quyết vấn đề chậm tiến độ của dự án.
Vấn đề nghiên cứu Có thể thấy rằng các dự án đầu tƣ xây dựng ở Việt Nam thƣờng chậm tiến độ thi công, do nhiều yếu tố khác nhau tác động gồm yếu tố khách quan nhƣ: Thiên tai, bão, lũ lụt, khủng hoảng kinh tế,… và yếu tố chủ quan nhƣ: Năng lực quản lý điều hành của Chủ đầu tƣ, Ban quản lý dự án yếu kém; Năng lực của đơn vị giám sát thi công; Năng lực tƣ vấn thiết kế hạn chế; Năng lực, kinh nghiệm, tài chính và thiết bị của nhà thầu kém. Ngoài những yếu tố trên còn một yếu tố quan trọng ảnh hƣởng trực tiếp đến tiến độ thi công của dự án đó là công tác giải phóng mặt bằng, nếu công tác giải phóng mặt bằng thuận lợi thì dự án thi công đảm bảo theo kế hoạch và ngƣợc lại. Trƣớc khi đánh giá sự ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến tiến độ thi công dự án cần tìm hiểu, tham vấn sự đồng thuận của ngƣời dân bị ảnh hƣởng bởi các dự án về sự hiểu biết về chủ trƣơng chính sách bồi thƣờng, sự đồng tình với giá trị bồi thƣờng, giá hỗ trợ và tái định cƣ cho ngƣời dân. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn này tập trung nghiên cứu đến sự chấp hành chủ trƣơng, chính sách bồi thƣờng và sự hài lòng, đồng thuận của các hộ dân bị ảnh hƣởng và sự tuân thủ của đơn vị thực hiện về chính sách bồi thƣờng, tìm hiểu những khó khăn, vƣớng mắc của cơ quan Quản lý nhà nƣớc, Chủ đầu tƣ/Ban quản lý dự án, Đơn vị giải phóng mặt bằng và ngƣời dân trong công tác giải phóng mặt bằng tại các dự án đầu 2 tƣ xây dựng trên địa bàn thành phố Rạch Giá.
Với những mục tiêu trên, có thể nhận định đây là yếu tố quan trọng đánh giá sự thành công của công tác giải phóng mặt bằng cũng nhƣ hoàn thành dự án theo đúng kế hoạch đề ra. Từ những vấn đề phân tích ở trên, luận văn này đƣợc thực hiện để tìm hiểu những mục tiêu sau: 1. Khảo sát và phân tích các yếu tố khó khăn khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng của các dự án xây dựng tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Xác định các nhân tố chính ảnh hƣởng đến công tác giải phóng mặt bằng trong các dự án xây dựng.
Xây dựng mô hình hồi quy đánh giá ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến chậm trễ tiến độ xây dựng. Kiểm chứng độ chính xác dự báo của mô hình hồi quy trên bằng một số dự án hoàn thành cụ thể.4 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu nhƣ sau: 1. Vùng thực hiện bài nghiên cứu đƣợc hạn chế ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với những dự án xây dựng công trình Hạ tầng kỹ thuật, trung tâm thƣơng mại, khu dân cƣ, khu tái định cƣ và xây dựng tuyến kè sông. Dữ liệu ban đầu sẽ đƣợc thu thập chủ yếu thông qua bảng câu hỏi bằng thƣ điện tử, trực tiếp bằng tay đến các nhóm đối tƣợng trả lời.
Chủ yếu là các cá nhân trong khu vực các dự án triển khai xây dựng nhƣ: Cơ quan quản lý Nhà nƣớc, Chủ đầu tƣ/Ban quản lý dự án, đơn vị giải phóng mặt bằng và ngƣời dân bị ảnh hƣởng. Chỉ dẫn khảo sát mẫu dữ liệu thì không đƣợc xem xét một cách riêng biệt cho từng trƣờng hợp nhằm mục đích giữ lại những tính chất, yếu tố phổ biến cho mẫu dữ liệu. Cho nên sẽ không có sự giới hạn về mức độ số lƣợng và kinh nghiệm làm việc của ngƣời trả lời. Thu thập dữ liệu ban đầu đƣợc thực hiện trong hai tháng.
Những bảng câu hỏi đƣợc ngƣời trả lời đáp lại trong khoảng thời gian dành cho thu thập sẽ đƣợc phân tích và những bảng câu hỏi đáp lại ngoài thời gian trên sẽ bỏ qua. Tất cả những phân tích và thảo luận sẽ đứng trên quan điểm của ngƣời quản lý dự án với mục đích chính là xem xét tình trạng thực hiện dự án và mức độ hài lòng của các cá nhân đƣợc phỏng vấn. Các dự án xây dựng đƣợc thực hiện trong giai đoạn thi công xây dựng và một số dự án đã hoàn thành.5 Những đóng góp của nghiên cứu Hiện nay trong và ngoài nƣớc đã có nhiều công trình nghiên cứu sự chậm trễ tiến độ xây dựng dự án do các yếu tố khác nhau, tuy nhiên chƣa có xem xét, nghiên cứu về sự ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến dự án xây dựng. Với bài nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp vào cơ chế chính sách bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng, cụ thể nhƣ sau: Về mặt lý luận, đề tài này sẽ góp phần cho việc nhận định, phân loại và phân tích sự ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến chậm tiến độ dự án xây dựng.
Ngoài ra, đề tài đƣợc thực hiện trên nền tảng lý thuyết xác xuất thống kê và một vài công cụ của phƣơng pháp nghiên cứu quan sát. Từ đó tạo một hệ thống lý luận logic để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của công tác giải phóng mặt bằng đến dự án xây dựng. Về mặt công cụ quản lý, nhằm đánh giá đƣa ra một số cơ chế chính sách phù hợp với thực tế trong việc thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Những cơ chế chính sách của công tác giải phóng mặt bằng chƣa phù hợp, chƣa đúng quy định sẽ đƣợc kiến nghị điều chỉnh nhằm đáp ứng mức độ hài lòng của ngƣời dân, cơ quan quản lý nhà nƣớc, chủ đầu tƣ/Ban quản lý dự án, đơn vị giải phóng mặt bằng,… 4 Chƣơng 2 TỔNG QUAN 2.1 Công tác giải phóng mặt bằng Công tác giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến thu hồi đất, di dời hoa màu và vật kiến trúc để xây dựng dự án hoặc công trình.
Thực trạng trong quá trình thực hiện tùy theo từng địa phƣơng có những bất cập và vƣớng mắc khác nhau nên nhiều dự án công trình còn dây dƣa, kéo dài do công tác giải phóng mặt bằng còn chậm và tập chung chủ yếu một số vấn đề sau: + Giá bồi thƣờng về đất chƣa phù hợp: Giá đất bồi thƣờng tại một số khu vực thấp hơn so với giá thị trƣờng; giá đất giáp ranh giữa hai tỉnh, giữa đô thị và nông thôn, giữa thành phố và huyện có chênh lệnh nhau nên ảnh hƣởng đến tâm lý ngƣời bị ảnh hƣởng. + Giá bồi thƣờng hoa màu và vật kiến trúc chƣa hợp lý: Giá do ủy ban nhân dân tỉnh qui định và đƣợc ban hành sử dụng trong nhiều năm mà không điều chỉnh cho phù hợp với thực tế nên các hộ dân bị ảnh hƣởng còn thắc mắc, khiếu nại. + Chính sách hỗ trợ: Việc định hƣớng lựa chọn việc làm, hƣớng chuyển đổi nghề nghiệp, việc tổ chức đào tạo học nghề đối với ngƣời bị thu hồi đất còn nhiều khó khăn; chính sách hỗ trợ chƣa hợp lý đối với ngƣời bị giải tỏa trắng phải di dời chổ ở, thu hồi hết đất sản xuất do không có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật để nên việc tiếp nhận, tuyển dụng những ngƣời này vào các công ty, xí nghiệp gặp khó khăn. + Việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thực hiện giải phóng mặt bằng: Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cơ quan chức năng còn mập mờ hoặc chƣa đƣợc công khai hoặc công khai hạn chế nên tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn dẫn đến búc xúc trong dân luận nhân dân.