ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2018 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc diện tích nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) năm 2018 đạt 5. Trong đó đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nuôi chính của cả nước, cung cấp tới hơn 98% sản lượng cá tra nuôi. Tuy nhiên, các sản phẩm chế biến từ cá tra nhìn chung còn đơn điệu, chủ yếu là sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh chiếm đến trên 95%, số còn lại cũng chỉ là các sản phẩm có hình thức khác hơn so với phi lê. Các loại sản phẩm chế biến sâu, phối chế, làm sẵn, ăn liền tuy bước đầu có sản xuất như: cá kho tộ, viên, chả giò, lạp xưởng, chà bông, bánh phồng, khô ăn liền,.
nhưng còn rất ít, chiếm khoảng 5%. Sản phẩm chế biến từ cá tra đòi hỏi nhiều lao động, sản lượng chế biến đạt thấp, vòng quay vốn dài, đối tượng khách hàng hạn chế, rủi ro lớn nên các doanh nghiệp chưa có quan tâm đúng mức sản xuất sản phẩm GTGT. Thiết bị công nghệ chế biến hiện nay chủ yếu để sản xuất cá tra phi lê đông lạnh, rất thiếu thiết bị công nghệ sản xuất ra sản phẩm GTGT, nhất là giai đoạn hiện nay thì việc mua thiết bị công nghệ mới là điều khó đối với doanh nghiệp. Các phụ phẩm trong chế biến cá tra phi lê đông lạnh như: đầu, xương, da, vây, nội tạng, mỡ,.tuy đã tận dụng để sản xuất ra các sản phẩm như dầu cá, bột cá, bong bóng, bao tử cá,.
nhưng sản phẩm còn thô, chưa có những sản phẩm cao cấp dùng trong dược phẩm hoặc mỹ phẩm như tinh dầu cá, gelatine, thực phẩm chức năng chứa vi chất. Chiên chân không là công nghệ chiên được thực hiện trong môi trường kín chứa dầu ở nhiệt độ cao và áp suất thấp, với sự kết hợp đồng thời tạo ra 2 động lực tách ẩm đó là: nhờ dầu truyền nhiệt cho vật liệu chiên để tạo gradien nhiệt theo hướng từ tâm ra bề mặt vật liệu; tăng chênh lệch áp suất riêng phần từ tâm của vật liệu chiên với áp suất riêng phần tại bề mặt vật liệu và môi trường chiên. Sản phẩm chiên chân không có giá trị dinh dưỡng cao, màu sắc đẹp, chất lượng cảm quan tốt và được thị trường rất ưa chuộng. Trên thị trường đã phổ biến các sản phẩm chiên chân không từ rau, củ quả và tinh bột, nhưng còn thiếu vắng các sản phẩm chiên chân không chế biến từ thủy hải sản nói chung và từ cá tra nói riêng.
Vì vậy việc nghiên cứu về công 1 c nghệ chiên chân không trong chế biến cá tra dạng snack nhằm đa dạng hóa các sản phẩm từ cá tra và nâng cao giá trị gia tăng cho loại sản phẩm này là rất cần thiết và cấp bách. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu chung - Xác định ảnh hưởng của một số thông số công nghệ trong quá trình xử lý nguyên liệu và chiên chân không đến chất lượng sản phẩm snack cá tra, từ đó lựa chọn chế độ chiên phù hợp nhất cho sản phẩm snack cá tra, nhằm tạo ra sản phẩm snack cá tra có chất lượng và được thị trường đón nhận. Mục tiêu cụ thể - Xác định phương pháp sơ chế, xử lý nguyên liệu tiền chế biến nhằm định hình cấu trúc và cải thiện chất lượng sản phẩm snack.
- Xác định ảnh hưởng của một số thông số công nghệ trong quá trình chiên đến chất lượng của sản phẩm snack nhằm lựa chọn thông số công nghệ phù hợp 2 c PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ÐẶC ĐIỂM CỦA THỰC PHẨM CHIÊN VÀ XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM Là loại thực phẩm dạng khô, nhờ quá trình tách nước đột biến trong môi trường dầu ở nhiệt độ cao và áp suất thấp, trong khi chất béo của dầu chiên có vai trò tăng cường và tạo nên hương vị, màu sắc đặc trưng của loại thực phẩm chiên. Chính vì vậy con người rất thích các loại thực phẩm chiên từ hàng ngàn năm nay với đặc tính độc đáo về độ giòn xốp, hương vị hấp dẫn và tạo cảm giác ngon miệng Các hương vị chiên điển hình chủ yếu là do các sản phẩm thoái hóa lipid có nguồn gốc từ dầu chiên.
Nhiệt độ, áp suất và thời gian chiên tối ưu phụ thuộc vào đặc tính của dầu chiên, thành phần hóa học và cấu trúc của vật liệu chiên. Bên cạnh mặt tích cực của quá trình chiên đã tạo ra sản phẩm có tính đặc thù mà không có phương pháp làm khô nào có thể thay thế được, tuy vậy về mặt hạn chế có nguy cơ tạo nên chất acrylamide là tác nhân có thể gây ung thư đã được các nhà khoa học Na Uy, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ ra cảnh báo. Nguyên nhân là do khi bị chiên nhiệt độ cao, asparagine (một loại axit amin) và đường tự nhiên có trong thực phẩm chiên có nguồn gốc thực vật sẽ phản ứng với nhau để tạo ra acrylamide. Thường quá trình chiên dầu ở nhiệt độ 1700C - 2000C, hơi nước được tách ra từ thực phẩm và một phần dầu chiên bị bốc hơi vào môi trường, trong khi phần còn lại của hợp chất dễ bay hơi trong dầu có thể thay đổi do các phản ứng hoá học và bị hấp thụ vào thực phẩm chiên.
Phản ứng hóa học xảy ra trong dầu chiên không chỉ do quá trình oxy hóa nhiệt mà còn tham gia phản ứng oxy hóa phức tạp khác. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA TẠI VIỆT NAM Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong 21 loài cá thuộc bộ siluriformes họ pangasiidae. Cá tra thích nghi với nhiều điều kiện sống và các chế độ ăn khác nhau, sinh trưởng nhanh. Cá tra được nuôi từ cá con (cá bột) trong điều kiện sinh sản tự nhiên được vớt lên từ sông Tiền và sông Hậu hoặc nhân giống nhân tạo.
Sau thời gian 8 đến 10 tháng nuôi, cá đạt cỡ từ 1 đến 1,2 kg/con, khi cá đã đạt chất lượng thương phẩm và tuỳ theo yêu cầu của thị trường có thể tiến hành thu hoạch toàn bộ cá nuôi trong ao. Sản lượng cá trung bình trong những năm gần đây đạt khoảng 30 tấn đối với bè nhỏ, 50 tấn đối với bè trung bình và trên 100 tấn đối với bè lớn. Năng suất trung bình từ 120 đến 130 kg/m3 bè. 3 c Cá Tra sau khi đánh bắt được phân loại theo các kích cỡ khác nhau tùy vào khối lượng con.
Việc phân loại này theo các đơn hàng cụ thể. Thông thường người ta chia ra 3 loại: B1 = 0,5kg ÷ 0,8kg/con; B2 = 1,0 ÷ 1,5 kg/con; B3 = 1,8 ÷ 2,0 kg/con. + Thành phần hóa học của cá Tra Thành phần hóa học cơ bản của cá tra gồm các thành phần cơ bản như nước, protein, lipid, gluxide, vitamin, khoáng… gluxide ít thường tồn tại ở dạng glycogen. Thịt cá tra là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein và acid béo chưa bão hòa.
Thành phần và tính chất của chất hóa học có trong thịt cá tra bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thành phần thức ăn, môi trường, kích thước cá và đặc tính di truyền cũng ảnh hưởng đến thành phần hóa học và chất lượng của các nuôi (Reinitz et al. Thành phần dinh dưỡng của cá Tra STT Thành phần (%) Giá trị 1 Protein 16,85 2 Lipid 3,34 3 Cacbonhydrat 6,5 4 Nước 75÷ 80 Nguồn:báo chìa khóa và giá trị dinh dưỡng (27-03-2013) + Cấu trúc cơ bản của cá Tra Bảng 2. Tỷ lệ phần trăm khối lượng của cá Tra STT Thành phần (%) Giá trị 1 Thịt cá 39 ÷ 42 2 Mỡ cá 11 ÷ 14 3 Đầu, xương, mỡ bụng, vây 32 ÷ 37 4 Nội tạng 5,0 ÷ 5,5 5 Da 8,5 ÷ 9,5 Nguồn: Reinitz et al. (1979) Tính trung bình phần thịt nạc được lọc ra thành filê chiếm khảng 30-40% trọng lượng cá nguyên liệu.
cụ thể, 3,2 kg cá tra nguyên liệu sau khi chế biến sẽ cho 1kg cá philê. Phụ phẩm cá thừa ra sau khi cắt philê (đầu, đuôi, da, ruột) được sử dụng để chế biến bột cá. 4 c Xét về thành phần khối lượng phần đầu xương chiếm khoảng 33-36%, da và vây cá chiếm tỷ lệ 6-8%, nội tạng chiếm tỷ lệ khá cao 11-13%. Phần trăm thịt cá khoảng 45-48% cho tỷ lệ cao nhất so sánh với các thành phần khác.
Khảo sát về sự thay đổi cấu trúc fille cá sau lạnh đông, kết quả thu được cho thấy cấu trúc duy trì không đổi nếu cá được xử lý và giữ lạnh ở 4oC trong thời gian tối đa 1 giờ trước khi cấp đông. Trường hợp thời gian xử lý cá trước cấp đông kéo dài đến 4 giờ, độ cứng cá giảm còn 91% so với nguyên liệu tươi. Đây chính là thông số hữu ích cho việc thiết kế quy trình sản xuất với sự phân bố thời gian hợp lý để duy trì chất lượng sản phẩm. Do đó, cá tra của Việt Nam là mặt hàng xuất khẩu nhiều sang thị trường nhiều nước trên thế giới và rất được ưa chuộng.
Cấu trúc là một trong những phần quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của nguyên liệu khi chế biến nhiệt. Theo định nghĩa của Jowitt,1974”Cấu trúc là những thuộc tính vật chất được kết hợp bởi những đặc tính vật lý và được nhận biết bằng các giác quan(bao gồm sự cả nhận bằng miệng), nghe và nhìn. Những đặc tính vật lý đó có thể gồm kích thước, hình dạng, con số, tự nhiên và sự hợp thành những yếu tố thuộc về cấu trúc” Một số đặc tính của cấu trúc: Cấu trúc là một nhóm đặc tính vật lý xuất phát từ cấu trúc của thực phẩm. Cấu trúc bao gồm một nhóm đặc tính không có đặc tính riêng lẻ.
Cấu trúc được nhận biết chủ yếu bằng xúc giác, thường bằng miệng nhưng cũng có thể sử dụng những phần khác của cơ thể(bàn tay) Cấu trúc không có mối liên quan với các thành phần hóa học của thực phẩm về mùi hay vị. Cấu trúc thường được xác định bởi một số đặc tính cơ bản như đánh giá bằng giác quan hay dụng cụ đo đạc (Brennan, 1980). Những đặc tính cấu trúc được chia làm 3 loại: Cơ học, hình học và những đặc tính khác. “Đặc tính cơ học”nhận diện cấu trúc thực phẩm bằng cách làm biến dạng thực phẩm.
“Đặc tính sinh học”được thực hiện chủ yếu bằng xúc giác và được cảm nhận bằng mắt hoặc đặt thực phẩm vào giữa hai hàm răng và cắn “Đặc tính khác”cũng đại diện cho việc cảm nhận thực phẩm nhưng không phải bằng đặc tính hình học mà bằng làm ướt thực phẩm (nấu), chiên (Christensen, 1984; Bourne, 2002).