CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC VẬN DỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ðẾN THÀNH QUẢ HOẠT ðỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm của kế toán quản trị Kế toán quản trị (KTQT) là quá trình xác ñịnh, ghi nhận, xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin kế toán nhằm trợ giúp các nhà quản trị trong việc ra quyết ñịnh, nhằm ñạt ñược mục tiêu của tổ chức (Horngren, 1996). Theo Chenhall (2003), các thuật ngữ KTQT, hệ thống KTQT, kiểm soát quản lý và kiểm soát tổ chức có thể ñược sử dụng thay thế cho nhau.
Ông nhấn mạnh rằng: “KTQT ñề cập ñến các công cụ như dự toán, tính giá thành sản phẩm, trong khi hệ thống KTQT ñề cập ñến việc sử dụng KTQT một cách có hệ thống ñể ñạt ñược những mục tiêu nhất ñịnh” (Chenhall, 2003, tr. Dearden (1988) cho rằng KTQT có 4 chức năng: kiểm soát, hỗ trợ ra quyết ñịnh, ño lường sự thay ñổi và thiết lập mục tiêu. Mặc dù có nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về hệ thống KTQT, tuy nhiên các ñịnh nghĩa này ñều có ñiểm chung là hệ thống KTQT tạo ra thông tin trợ giúp nhà quản trị trong việc lập dự toán, phối hợp hoạt ñộng, giám sát và ñánh giá thành quả hoạt ñộng của từng bộ phận cũng như của toàn ñơn vị (MacDonald, 1999). Sự hữu ích của việc vận dụng các công cụ kế toán quản trị Sự hữu ích của các công cụ KTQT trong các nghiên cứu trước ñây ñược ño lường thông qua nhận thức của người sử dụng, tức nó ñược ño dựa trên cảm nhận của người ñược phỏng vấn về mức ñộ KTQT hỗ trợ doanh Luan van 10 nghiệp trong hoạt ñộng của mình như trong nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (2007), Joshi (2001), Luther và Longden (2001), Wu và cộng sự (2007).
Lợi ích dựa trên nhận thức trong những nghiên cứu này ñược ño lường dựa trên thang ño Likert từ không có ích ñến rất có ích. Sử dụng phương pháp này, Chenhall và Langfield-Smith (1998) tìm thấy rằng các công cụ KTQT truyền thống ñược nhận thức là ñem lại nhiều lợi ích hơn các công cụ KTQT hiện ñại trong các doanh nghiệp ở Úc. Luther và Longden (2001) tìm thấy các nhà quản trị tại Anh và Nam Phi nhận thức ñược về lợi ích của các công cụ KTQT là khá khác nhau. Một vài công cụ như dự toán cho việc ra quyết ñịnh về giá, tính toán chi phí sử dụng vốn, ABC, ABM ñược cho là hữu ích hơn bởi các nhà quản trị ở Nam Phi so với các nhà quản trị ở Úc.
Trong hầu hết các nghiên cứu ñánh giá lợi ích của KTQT ở các nước ñang phát triển, lợi ích ñược ño lường thông qua cảm nhận của những người ñược khảo sát. Sử dụng cách tiếp cận này, Joshi (2001) tìm thấy rằng các công cụ KTQT truyền thống ñược cho là ñem lại nhiều lợi ích hơn so với các công cụ KTQT hiện ñại trong các doanh nghiệp ñược khảo sát ở Ấn ðộ, trong ñó các công cụ dự toán phục vụ cho việc kiểm soát chi phí ñược cho là ñem lại lợi ích lớn nhất, theo sau là các công cụ dự toán phục vụ cho việc kiểm soát chi phí ñược cho là ñem lại lợi ích lớn nhất, theo sau là các công cụ như phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, khảo sát sự hài lòng của khách hàng, dự toán vốn bằng tiền. Chỉ có 2 công cụ KTQT hiện ñại là chi phí mục tiêu và tính giá dựa trên hoạt ñộng, mặc dù có tỉ lệ áp dụng thấp nhưng ñược ñánh giá ñem lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp sử dụng. Kết quả các nghiên cứu khác (nghiên cứu của Wu và cộng sự (2007); Wu và Drury (2007)) cũng cho thấy các công cụ KTQT truyền thống liên quan ñến các chức năng hoạch ñịnh cho kiểm soát, dự toán lợi nhuận, dự toán Luan van 11 doanh thu… ñược ñánh giá là hữu ích hơn trong các doanh nghiệp nhà nước so với các công ty liên doanh.
Trong khi ñó, các công ty liên doanh lại ñánh giá các công cụ KTQT hiện ñại ñem lại nhiều hữu ích hơn so với các doanh nghiệp nhà nước. Trong nghiên cứu khác, Luther và Longden (2001) không tìm thấy sự thay ñổi lớn trong mức ñộ lợi ích có ñược cảm nhận bởi các nhà quản trị trong giai ñoạn 1996 – 2002. Trong 47 công cụ KTQT ñược khảo sát, 36 công cụ ñược cho là lợi ích có tăng lên, 11 công cụ còn lại là các công cụ KTQT truyền thống và lợi ích của chúng không có sự biến ñộng trong thời gian khảo sát. Tất cả các nghiên cứu ñược trình bày ở trên sử dụng thang ño lợi ích từ cảm nhận ñược Chenhall và Langfield-Smith (1998) ñề xuất.
ðo lường này dựa trên cảm nhận của các nhà quản trị tài chính. Các công cụ kế toán quản trị ñược sử dụng ở các nước phát triển và ñang phát triển a. Các công cụ kế toán quản trị ñược sử dụng ở các nước phát triển Chenhall và Langfield-Smith (1998) nghiên cứu việc áp dụng 42 công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện ñại và truyền thống) ở Úc, các công cụ này ñược chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng gồm dự toán tài chính, dự toán hoạt ñộng, tính giá, ñánh giá thành quả, hỗ trợ cho việc ra quyết ñịnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này ñược sử dụng trong các công ty ñược khảo sát, tuy nhiên, tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện ñại.
Thêm vào ñó, những công cụ liên quan ñến thông tin phi tài chính cũng ñược sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp nghiên cứu tại Úc. Trong một khảo sát khác, Abdel-Kader và Luther (2006) nghiên cứu việc vận dụng 38 công cụ KTQT vào các doanh nghiệp trong ngành công Luan van 12 nghiệp chế biến thực phẩm và nước giải khát ở Anh. Rất nhiều công cụ trong nghiên cứu này khác với các công cụ ñược sử dụng trong nghiên cứu của Chenhall và Langfield (1998) và các công cụ KTQT này ñược chia thành 5 nhóm tính giá, dự toán, ñánh giá thành quả, thông tin cho việc ra quyết ñịnh và phân tích chiến lược. Kết quả khảo sát từ 122 doanh nghiệp cho thấy các công cụ KTQT truyền thống ñược sử dụng phổ biến hơn so với các công cụ KTQT hiện ñại.
Ngược lại, một số công cụ KTQT hiện ñại (như thẻ cân bẳng ñiểm, ño lường dựa trên thành quả phi tài chính) ñược cho là rất quan trọng, nhưng chỉ 40% số doanh nghiệp ñược khảo sát áp dụng. Nghiên cứu này cũng cho thấy hơn 50% số doanh nghiệp ñược khảo sát sử dụng quản trị lợi nhuận theo từng khách hàng. Tương tự như các nghiên cứu ở trên, Libby và Waterhouse (1996) khảo sát việc áp dụng các hệ thống KTQT (thay vì các công cụ KTQT như các nghiên cứu trên) và sự thay ñổi của việc vận dụng các hệ thống này trong các doanh nghiệp ở Canada. Với 23 hệ thống KTQT ñược khảo sát, ñược phân thành 5 nhóm: hoạch ñịnh, kiểm soát, tính giá, ñịnh hướng và ra quyết ñịnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 31% các công ty khảo sát có sự thay ñổi trong việc sử dụng các hệ thống KTQT trong giai ñoạn 1991-1993. Các doanh nghiệp hoạt ñộng trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ có xu hướng sử dụng nhiều hệ thống KTQT hơn các doanh nghiệp ít cạnh tranh. Từ những nghiên cứu trên cho thấy rằng các nhóm công cụ KTQT khác nhau (cả công cụ KTQT truyền thống và hiện ñại) cũng như các hệ thống KTQT khác nhau ñược sử dụng trong các nghiên cứu trước ñây ñể ñánh giá tình trạng áp dụng KTQT cũng như sự thay ñổi của KTQT ở các nước phát triển. Không có một hệ thống hay các công cụ KTQT nào mang tính chuẩn hóa trong các nghiên cứu này và kết quả từ các nghiên cứu này cũng cho thấy tỉ lệ áp dụng các công cụ KTQT là khác nhau ở các quốc gia khác nhau.
Các công cụ kế toán quản trị ñược sử dụng ở các nước ñang phát triển Một số nghiên cứu ñược thực hiện ñể trả lời câu hỏi những công cụ KTQT nào ñược áp dụng ở các nước ñang phát triển hoặc những nước có nền kinh tế chuyển ñổi như nghiên cứu của Joshi (2001) ở Ấn ðộ. Ông sử dụng danh sách các công cụ KTQT ñược Langfield-Smith (1998) dùng trong nghiên cứu của Úc và thêm vào 3 công cụ là chi phí ñịnh mức, dự toán dựa trên zero và phương pháp tính giá back flush. Dựa vào số liệu khảo sát của 60 doanh nghiệp vừa và lớn, nghiên cứu cho thấy các công cụ KTQT liên quan ñến việc lập dự toán và hệ thống ñánh giá thành quả hoạt ñộng ñược áp dụng rộng rãi. Tương tự, Wu và cộng sự (2007), Wu và Drury (2007) sử dụng danh mục các công cụ KTQT ñược ñưa ra bởi Chenhall và Langfield-Smith (1998) nhưng bỏ bớt ñi 3 công cụ mà các tác giả này nghĩ rằng không quen thuộc với các nhà quản trị ở Trung Quốc là benchmarking, thẻ cân bằng ñiểm và phân tích giá trị của cổ ñông.
Kết quả nghiên cứu từ 64 công ty liên doanh và 115 doanh nghiệp nhà nước cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc chủ yếu sử dụng các công cụ KTQT truyền thống. Trong khi các nhà quản trị doanh nghiệp nhà nước cho rằng họ sẽ tập trung vào các công cụ KTQT truyền thống, ngược lại các nhà quản trị ở các doanh nghiệp liên doanh có xu hướng chú ý ñến các công cụ KTQT hiện ñại. Kết quả nghiên cứu cho các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc giống với kết quả nghiên cứu của Joshi (2001) cho các doanh nghiệp Ấn ðộ. Sự khác biệt giữa các doanh nghiệp nhà nước và các công ty liên doanh ở Trung Quốc trong việc vận dụng các công cụ KTQT là do tác ñộng của các ñối tác nước ngoài trong các công ty liên doanh.
Một số nghiên cứu khác sử dụng danh mục công cụ KTQT riêng ñể Luan van 14 nghiên cứu sự vận dụng của các công cụ KTQT này, chứ không sử dụng danh mục các công cụ ñược ñề xuất bởi Chenhall và Langfield-Smith (1998). Trường hợp của Waweru và cộng sự (2005) là một ví dụ. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy các công cụ KTQT truyền thống lẫn hiện ñại ñều ñược sử dụng trong các doanh nghiệp ở Nam Phi. Tương tự, Szychta (2002) thực hiện nghiên cứu ở Ba Lan ñể ñánh giá việc vận dụng các công cụ KTQT, nơi mà nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.