CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bưởi (Citrus grandis L. Osbeck) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước vùng Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippin v. Cây bưởi không những có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị dinh dưỡng lớn đối với con người.
Bên cạnh đó bưởi có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền của dân tộc. Trong lá, hoa, vỏ quả bưởi đều chứa tinh dầu. Ngoài dùng ăn tươi, bưởi còn được chế biến thành rất nhiều sản phẩm có giá trị như nước quả, mứt v. Trong công nghiệp chế biến, vỏ, hạt để lấy tinh dầu, bã tép để sản xuất Pectin có tác dụng bồi bổ cơ thể rất tốt.
Đặc biệt bưởi có tác dụng rất tốt trong việc chữa các bệnh về tim mạch, đường ruột cũng như có tác dụng chống ung thư (Trần Thế Tục,1995) [14], (Trần Như Ý và cs, 2000) [17]. Từ những giá trị trên mà ngày nay cây bưởi ngày càng được phát triển ở nhiều vùng nhiều địa phương và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các hộ nông dân. Tuy nhiên một số khó khăn mà các nhà làm vườn vấp phải hiện nay chính là chưa áp dụng được hiệu quả khoa học kỹ thuật vào sản xuất như sử dụng phân vi sinh để tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả. Cũng như các cây trồng khác, cây bưởi chịu tác động nhiều từ dinh dưỡng; thiếu dinh dưỡng làm cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất, phẩm chất giảm sút, quả bị bị biến dạng và bị khô tép quả (Phan Yến Sơn, 2010)[11].
Cây bưởi cũng khá mẫn cảm với việc dư thừa dinh dưỡng, đặc biệt là dư thừa clo, natri, bo, mangan có thể làm tổn thương cây. Việc sử dụng phân vi sinh sẽ làm tăng khả năng ra hoa đậu quả, làm cho sản phẩm có mẫu mã đẹp chất lượng tốt ngăn ngừa được sâu bệnh gây hại. Do vậy, để có được những sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt Việt e 5 Nam cũng cần phải có những nghiên cứu về sử dụng phân vi sinh để lựa chọn được liều lượng phù hợp với điều kiện canh tác bưởi của Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng. Nguồn gốc của cây bưởi Bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L).
Trong phân loại thực vật, bưởi thuộc họ cam Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, chi Citrus, chi phụ Eucitrus, loài Grandis ( Đỗ Đình Ca và các cs, 2008 [2]; Đoàn Văn Lư và cs, 2002) [9]. Theo tác giả (Bùi Huy Đáp, 1960) [5], (Walter Reuther, 1989) [24] các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau Công Nguyên và tiếp theo mới đến các nước ở châu Âu, phía nam Trung Quốc và các nước châu Mỹ. Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi, xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ, tiếp theo là trồng ở Bang Florida (Mỹ) vào năm 1809, sau đó lan rộng và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Trên thế giới hiện nay có 3 vùng trồng cam quýt chủ yếu, riêng với cây bưởi là vùng châu Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á. Trong đó khu vực Bắc Mỹ là vùng trồng lớn nhất sau đó đến châu Á và Vùng Địa Trung Hải. Hàng năm, trên thế giới sản xuất khoảng 5,5 – 6,5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis) chiếm 5,4 - 5,6 % tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn) còn lại bưởi chiếm một lượng khá khiêm tốn khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn (FAO, 2018 [20]). e 6 Theo số liệu thông kê của FAO (2018), tình hình sản xuất bưởi trên thế giới được tổng hợp như bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) 2007 305.1 cho thấy, trong 10 năm trở lại đây cây bưởi tăng cả về diện tích, sản lượng và năng suất, cụ thể năm 2011 là có sự chuyển biến rõ rệt nhất khi cả năng suất, diện tích, sản lượng tăng lên đáng kể đây là biểu hiện tích cực cho một thời kì phát triển mới của cây bưởi.
Diện tích bưởi năm 2016 đạt 358.724 ha và đồng thời là diện tích trồng bưởi kỉ lục tính tới thời điểm hiện tại. Đi kèm với diện tích bưởi tăng là sản lượng bưởi toàn cầu tăng từ 7.247 tấn năm 2007 đạt đỉnh điểm về sản lượng năm 2016 đạt 9. Năng suất bưởi bình quân của thế giới trong 10 năm có sự biến động nhưng sản lượng vẫn tăng đều qua các năm. Nhìn chung từ năm 2007 - 2016, diện tích bưởi tăng và sản lượng tăng thêm gần 2.000 tấn, nguyên nhân chủ yếu do năng suất được tăng lên bởi áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất bưởi.
Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả.2: Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới Năm 2016 Diện tích thu Năng suất Sản lượng TT Quốc gia hoạch (ha) (tạ/ha) (tấn) 1 Thế giới 358,724 252,957 9,074,176 2 Châu Phi 55,102 148,997 821,002 3 Châu Mỹ 77,349 215,780 1,669,037 4 Châu Á 222,244 291,943 6,488,281 5 Châu Âu 3,140 276,329 86,760 6 Châu Đại Dương 889 102,373 9,096 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) [20] Qua bảng 1.2 cho thấy: Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh. được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu và khu vực này cũng là nơi có năng suất cao nhất. Trong đó: Về diện tích trồng bưởi năm 2016, Châu Á có diện tích lớn nhất đạt 222,244 ha, tiếp đến là Châu Mỹ với diện tích 77,349 ha, Châu Phi (55,102 ha), Châu Âu (3,140 ha) và thấp nhất là Châu Đại Dương chỉ đạt 889 ha. Năng suất cao nhất là Châu Á đạt 291,943 tạ/ha, tiếp đến Châu Âu đạt 276,329 tạ/ha và thấp nhất là Châu Đại Dương đạt 102,373 tạ/ha.
Sản lượng của Châu Á cao nhất trong các Châu lục đạt 6,488,281 tấn, tiếp đến là Châu Mỹ đạt 1,669,037 tấn, vùng có sản lượng thấp nhất là Châu Đại Dương chỉ đạt 9,096 tấn. Về tiêu thụ bưởi: Nhật Bản vẫn là một thị trường lớn cho việc tiêu thụ bưởi. Trong năm 2004/2005 bang Florida của Mỹ đã xuất sang Nhật Bản 4.851 tấn) bưởi tươi, năm 2005/2006: 6 - 7 triệu thùng (102-119 nghìn tấn), năm 2006/2007: 8 triệu thùng (136 ngàn tấn). Nam Phi e 8 cũng xuất sang Nhật khoảng 6 triệu thùng (96.721 tấn) bưởi trong năm 2004/2005, tăng gần 1,55 triệu thùng so với năm 2003/2004.
Tại Nga, khoảng 12% người Nga coi quả có múi là loại trái cây ưa thích. Quýt và cam là 2 loại quả phổ biến nhất trong khi đó bưởi vẫn được coi là loại quả có múi quý hiếm. Năm 2004, Nga nhập 4 ngàn tấn bưởi, tăng so với 32 ngàn tấn năm 2003, 33 ngàn tấn của năm 2002 và 22 ngàn tấn năm 2001. Trong 9 tháng đầu năm 2005 Nga đã nhập 30 ngàn tấn bưởi.
Như vậy, Nga đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu bưởi, sau Nhật bản (288 ngàn tấn) và Canada (51 ngàn tấn), trong tổng số 464 ngàn tấn của toàn thế giới. Các nước cung cấp bưởi chủ yếu cho Nga là Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen, Nam Phi và Achentina. Tình hình sản xuất bưởi tại Việt Nam Tình hình sản xuất bưởi Việt nam được thể hiện trong bảng 1.3: Tình hình sản xuất cây bưởi ở Việt Nam năm 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2012 37.288 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) [20] Diên tích trồng bưởi ở nước ta ngày càng tăng, năm 2012 diện tích trồng bưởi là 37.407 ha tăng lên 42. Năng suất bưởi cao nhất vào năm 2014 là 120,225 tạ/ha sau đó giảm còn 118,120 tạ/ha năm 2016.
Tuy năng suất có bấp bênh nhưng sản lượng vẫn tăng đều qua các năm, năm 2012 sản lượng bưởi đạt 437.436 tấn đến năm 2016 đã tăng lên và đạt 497. e 9 Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, chỉ riêng bưởi Năm roi ở Đồng bằng sông Cửu Long diện tích đã khoảng trên 10.000 ha, sản lượng đạt 60.000 tấn/năm, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long với diện tích 4,5 nghìn ha cho sản lượng 31,3 nghìn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng Năm Roi của cả nước, trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 nghìn ha với sản lượng gần 30 nghìn tấn. Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang: 1,3 nghìn ha. Giống bưởi Da Xanh mới chọn lọc cách đây khoảng chục năm nhưng diện tích trồng giống bưởi này ở Bến Tre đã có 1.
Ở nước ta, nhóm cây ăn quả có múi nói chung, cây bưởi nói riêng được coi là một trong 4 loại các cây ăn quả chủ lực. Nước ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu (Vũ Mạnh Hải và cs,2000) [7] là: - Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) với tổng diện tích 74.400ha, chiếm 54% và sản lượng 880.800 tấn/năm, chiếm 65% so với cây có múi của cả nước. Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long có các giống cây có múi đặc sản nổi tiếng được người tiêu dùng ưa chuộng, sẵn sàng mua với giá cao (bưởi Da Xanh - Bến Tre; bưởi Năm Roi - Vĩnh Long - Hậu Giang; quýt hồng - Đồng Tháp; quýt Đường - Trà Vinh; cam Sành và bưởiLông Cổ Cò - Tiền Giang,. - Vùng Bắc Trung bộ: Theo thống kê năm 2009 diện tích cây có múi toàn vùng là 16.520 ha cho thu hoạch.
Trong vùng này có hai vùng bưởi đặc sản, đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch của Hương Khê, Hà Tĩnh. Với ưu việt của mình, diện tích bưởi Phúc Trạch ngày được mở rộng. Trong năm 2008, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến 1.600 ha, trong đó có khoảng 1.250 ha đã cho quả, sản lượng quả bình quân những năm gần đây đạt 15-17 nghìn tấn/năm. - Vùng trung du và miền núi phía Bắc: cây có múi ở vùng này được trồng ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, e 10 sông Chảy.