MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam được xác định là quê hương của cam quýt, ngoài những giống cam quýt của địa phương và nhập nội, hiện nay còn tìm thấy nhiều loài hoang dại thuộc họ cam quýt. Hiện nay cam quýt trở thành một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm khoảng gần 200 giống khác nhau (Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (2000). Việt Nam tuy là nước trồng nhiều cam quýt và có lịch sử trồng trọt từ lâu, nhưng năng suất, chất lượng và các sản phẩm của cam quýt hiện nay còn ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Nguyên nhân, do Việt Nam còn thiếu bộ giống tốt, công tác giống chưa thực sự được chú trọng và quản lý tốt, điều kiện kinh tế còn hạn hẹp, trình độ dân trí còn thấp, tập quán sản xuất còn mang nặng tính quảng canh. Các địa phương còn thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn thực sự có năng lực cũng như trình độ khoa học vv. Vùng Trung du miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu và nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả. Cam quýt, trên thực tế đã là cây trồng phổ biến, nhiều nơi trồng thành những vùng tập trung từ vài trăm đến vài nghìn hec ta như ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Bắc Quang, Vị Xuyên (Hà Giang), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bạch Thông (Bắc Kạn) vv.
Trong tập đoàn giống cam quýt ở vùng Trung du - miền núi phía Bắc, cam sành (Citrus nobilis Lour) là một giống lai giữa cam và quýt (C.sinensis) (Đỗ Đình Cả (1995)) được người dân trồng trọt lâu năm và hiện nay đang có diện tích trồng trọt lớn nhất so với các giống khác. n 2 Huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), nổi tiếng có vùng cam sành rộng lớn, thương hiệu cam sành Hàm Yên chính thức xuất hiện và được công bố rộng rãi tháng 12/2007. Cây cam hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, vùng cam sành Hàm Yên, Tuyên Quang những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam tăng, chủ yếu là sử dụng đất rừng, trong đó phần lớn là rừng nguyên sinh, tình hình sâu bệnh hại nghiêm trọng diễn ra phổ biến trên diện rộng, tuổi thọ của cây và vườn ngắn, giống bị thoái hoá, cây không cho thu hoạch, nhất là các vườn trồng bằng cành chiết trên đất trồng cam chu kỳ 2, đặc biệt khi ra hoa và hình thành quả còn bị rụng nhiều.
Chính vì các lý do trên nên em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng đến tình hình ra hoa và đậu quả của sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Đánh giá thực trạng sản xuất cam sành và xác định nồng độ chất kích thích sinh trưởng ảnh hưởng đến tình hình ra hoa và đậu quả của cam sành Hàm Yên.2 Yêu cầu - Đánh giá hiện trạng sản xuất, xác định các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cam sành tại huyện Hàm Yên, Tuyên Quang. - Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ một số chất kích thích sinh trưởng đến tình hình ra hoa và đậu quả của cam sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của cam sành. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam Sành trồng tại huyện Hàm Yên. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Những nét chung về tài nguyên cây ăn quả có múi 2. Nguồn gốc cây ăn quả có múi Nobumasa Nito (2004) [30], đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè. Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc. Những ghi chép cổ ở Trung Quốc cho thấy trồng trọt cây ăn quả có múi đã có ở đó hơn 4.
Nhiều nhà nghiên cứu trước đó cho rằng cây cam quýt phần lớn có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua dãy núi Hymalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo đến lục địa Úc. Tuy nhiên, Swingle W.T (1967) [34] còn có nhận định khác là nguồn gốc cây ăn quả có múi phân bố từ Đông Bắc Ấn Độ, trung tâm Trung Quốc, miền Bắc và Trung Úc, qua New Caledonia. Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (citrus nobilis Osbeck) và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương [19]. Tóm lại, tuy ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện.
Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay. Phân loại cây ăn quả có múi Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3 chi: Citrus, Fortunella và Poncirus. Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc n 5 điểm chung về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ Citrinae, họ Rutaceac, họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [30]. Các hệ thống phân loại đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng.
Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất, việc phân loại cây ăn quả có múi chủ yếu vẫn dựa vào 2 hệ thống phân loại cơ bản của Swingle (1943) và của Tanaka và cộng sự (1954). Tanaka cho rằng có 144 loài với hàng loạt các giống và dòng thuộc mỗi loài, sau này vào năm 1961 ông đã công bố danh sách với 157 loài. Nhà nghiên cứu cam quýt người Mỹ Hogdson (1961) trên cơ sở phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một hệ thống phân loại mới bao gồm 16 loài từ hệ thống Swingle và hơn 20 loài từ hệ thống Tanaka [19], [26]. Hệ thống của Swingle và Reece (1967) [34], cho đến nay đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận.
Theo khoá phân loại của Swingle (1967) có 16 loài, phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Rutaces. Những nghiên cứu gần đây nhất sử dụng phương pháp phân loại hoá học (chemotaxonomy) kết hợp phân tích đặc điểm hình thái đã đưa ra kết luận, chỉ có 3 nhóm cây ăn quả có múi chính giống nhau về cấu trúc di truyền trong chi Citrus, đó là: - Nhóm C. - Nhóm Citrus reticulata bao gồm Citrus reticulata (quýt – mandarin), Citrus sinensis (cam ngọt – orange), Citrus paradisi (bưởi chùm – grapefruit), Citrus aurantium (cam chua – orange), Citrus jambhiri (chanh sần – rough lemon). n 6 - Citrus maxima và Citrus reticulata là những loài thuần thật sự được thương mại của chi Citrus, còn cam ngọt là dạng cây lai giữa quýt và bưởi, bưởi chùm là dạng cây lai của cam ngọt và bưởi, chanh ta là dạng cây lai của cam và chanh sần hay bưởi, còn chấp là dạng cây lai của chanh, bưởi và Microcitrus (Nobumasa Nito, 2004) [30].
- Nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng lai của các vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt. Đặc điểm phân biệt rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ không có vỏ xốp trắng. Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm: - Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan) - Quýt Satsuma (C.unshiu Marc) - Quýt Kinh (C.nobolis Lour) - Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco) - Quýt quả nhỏ. Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha.
Giống quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [30]. Theo Võ Văn Chi (1997) [3], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài. Theo Phạm Văn Hộ (1999) [10] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ. Đặc điểm thực vật của cây có múi 2.
Đặc điểm thực vật học của cây có múi Theo nhiều tài liệu công bố (Akihama, T and N.Nito, 1996 [21], Hoàng Ngọc Thuận, 2002…) [17] tương tự như những cây ăn quả nói chung cây ăn quả có múi gồm các bộ phận thực vật cơ bản được mô tả như sau: n 7 - Rễ: Rễ cây có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm. Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh trưởng xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái. Rễ cọc dễ phát hiện ở thời kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt. Cấu trúc bộ rễ ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây…và hình thức nhân giống (gieo hạt, chiết, ghép, giâm).
Rễ mới ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có màu hơi nâu vàng. Khi rễ chuyển sang màu nâu đậm sẽ chết đi. Rễ cây có múi không phân cấp tầng lông hút mà có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ thay lông hút.