Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thưởng thức hoa cảnh của người dân ngày càng gia tăng, đặc biệt vào các dịp Tết Nguyên đán. Bên cạnh các loài hoa truyền thống có giá thành cao như hoa ly, hoa cúc, hoa lay ơn, hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.) xuất hiện như một đối tượng cây cảnh được ưa chuộng nhờ hình thái bắt mắt, màu sắc đa dạng và mức giá phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số người tiêu dùng. Song song với xu hướng phát triển nông nghiệp đô thị, vấn đề ô nhiễm môi trường do các phế phẩm sinh hoạt cũng trở nên cấp thiết. Tại các đô thị, lượng bã cà phê thải ra từ các cơ sở kinh doanh đồ uống ngày càng lớn; việc xả thải trực tiếp xuống hệ thống mương rãnh thoát nước thường xuyên gây tắc nghẽn dòng chảy và ô nhiễm môi trường cục bộ. Trong khi đó, bã cà phê là nguồn hữu cơ giàu dinh dưỡng, chứa hàm lượng chất hữu cơ và khoáng chất cao, có tiềm năng lớn để tái chế làm giá thể hoặc phân bón cho cây trồng. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của bã cà phê đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.) tại thành phố Tam Kỳ" đã được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đánh giá ưu điểm khi trồng hoa Mào Gà đuôi phụng trên giá thể có bổ sung bã cà phê so với khi trồng trên đất không bổ sung bã cà phê.
- Xác định tỷ lệ phối trộn bã cà phê thích hợp nhất trong giá thể nhằm tối ưu hóa sự sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa Mào Gà đuôi phụng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.) trồng trong chậu có bổ sung các tỷ lệ bã cà phê khác nhau trong giá thể.
- Phạm vi không gian: Vườn thực nghiệm Sinh - Bảo vệ thực vật nằm phía sau dãy nhà A2, Trường Đại học Quảng Nam (số 102 đường Hùng Vương, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).
- Phạm vi thời gian: Vụ Đông Xuân 2016 - 2017, từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phân loại học thực vật và nông hóa học về giá thể hữu cơ. Hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.) thuộc chi Celosia, họ Dền (Amaranthaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales). Về mặt sinh lý, đây là loài cây hai lá mầm, thuộc nhóm thực vật quang hợp C4, có cường độ quang hợp lý thuyết nằm trong khoảng 40 - 80 mg/dm²/h và không có hô hấp sáng. Về đặc tính giá thể, tài liệu phân tích thành phần hóa học cho thấy bã cà phê có độ pH từ 5,9 - 6,9; tỷ lệ chất hữu cơ (CHC) chiếm 62,6%; hàm lượng đạm tổng số (NTs) đạt 2,4%; lân tổng số (PTs) đạt 0,47%; và kali tổng số (KTs) đạt 0,94%.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo hình thức thí nghiệm trồng chậu, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) gồm 4 công thức với 3 lần nhắc lại. Mỗi ô thí nghiệm gồm 5 chậu (1 cây/chậu, đường kính chậu 18 cm, khoảng cách giữa các chậu là 20 cm, khoảng cách giữa các lần nhắc lại là 25 cm), tổng số lượng là 60 chậu trên tổng diện tích mặt bằng 3,05 m². Tỷ lệ phối trộn giá thể cho từng chậu được quy định cụ thể:
- Công thức đối chứng (CTĐC): 1 kg đất + 0,33 kg phân chuồng hoai mục + 0 kg bã cà phê.
- Công thức 1 (CT1): 1 kg đất + 0,33 kg phân chuồng + 0,33 kg bã cà phê (bằng 25% khối lượng hỗn hợp đất + phân chuồng).
- Công thức 2 (CT2): 1 kg đất + 0,33 kg phân chuồng + 0,40 kg bã cà phê (bằng 30% khối lượng hỗn hợp đất + phân chuồng).
- Công thức 3 (CT3): 1 kg đất + 0,33 kg phân chuồng + 0,47 kg bã cà phê (bằng 35% khối lượng hỗn hợp đất + phân chuồng).
Quy trình bón lót và bón thúc: Toàn bộ lượng phân chuồng được ủ hoai mục và bã cà phê được ủ 1,5 tháng trước khi đưa vào phối trộn. Phân bón lót dùng 15 kg đất, 5 kg phân chuồng cho mỗi công thức (15 chậu); lượng bã cà phê bón lót tương ứng là 0 kg (CTĐC), 5 kg (CT1), 6 kg (CT2), 7 kg (CT3). Quá trình bón thúc chia làm 3 đợt: lần 1 (cây 20 ngày tuổi) bón 2,25 kg DAP cho mỗi công thức; lần 2 (cây 35 ngày tuổi) bón 2,25 kg DAP kết hợp 1,5 kg bánh dầu (ngâm với 7,5 lít nước trong 10 ngày); lần 3 (cây 50 ngày tuổi) bón 2,25 kg bánh dầu.
Nguồn dữ liệu thu thập qua đo đạc trực tiếp các chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu sinh lý: Tỷ lệ nảy mầm hạt (ngâm gieo 160 hạt), tỷ lệ sống sót của cây con khi ra chậu; cường độ quang hợp (phương pháp cân khô tuyệt đối các mảnh lá sấy ở 100 - 105°C trước và sau khi chiếu sáng); khối lượng tươi (cân điện tử ABLEX); khối lượng khô (sấy ở 105°C trong 2 giờ, sau đó sấy ở 80 - 90°C đến khối lượng không đổi); hàm lượng nước tổng số trong cây.
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Số lá trên thân, diện tích lá (phương pháp cắt giấy cân quy đổi theo mảnh mẫu 1 dm²), chiều cao cây, đường kính thân, số nhánh cấp 1 xuất phát từ thân chính; đo vào 3 thời điểm (khi cây có 3 - 4 cặp lá thật, khi xuất hiện nụ hoa đầu tiên, và khi có 50% số hoa nở trưởng thành).
- Chỉ tiêu sinh sản và năng suất: Thời gian từ trồng đến xuất hiện nụ đầu tiên, thời gian từ ra nụ đến khi hoa trưởng thành, số lượng bông trên thân chính và cành cấp 1, chiều dài bông hoa trục chính, độ bền tự nhiên của hoa (từ lúc 50% hoa nở đến khi 50% số hoa tàn).
Số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số: giá trị trung bình mẫu (Mean), độ lệch chuẩn (SD) và hệ số biến động (CV%).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các yếu tố tự nhiên tại địa bàn nghiên cứu, cơ sở lý luận về loài hoa nghiên cứu và bã cà phê:
- Điều kiện tự nhiên tại thành phố Tam Kỳ: Thành phố nằm ở tọa độ 15°34'30'' vĩ Bắc, 108°28'30'' kinh Đông, địa hình thoải dần từ Tây sang Đông thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Diễn biến thời tiết vụ Đông Xuân 2016 - 2017 có nhiều bất thường: nhiệt độ trung bình 6 tháng đạt 25,2°C (thấp nhất vào tháng 12 là 22,6°C, cao nhất vào tháng 3 là 28,3°C); độ ẩm bình quân 85% (tháng 12 đạt 96%); lượng mưa bình quân 521,2 mm/tháng, trong đó tháng 12/2016 xuất hiện lượng mưa kỷ lục đạt 1205,3 mm, gây ngập lụt lịch sử. Đất tại vườn thực nghiệm có đặc tính cằn cỗi, độ phì kém, đòi hỏi phải cải tạo nhiều.
- Tổng quan nghiên cứu: Tổng hợp kết quả của Khuất Thị Hoan (2010/2014) về ảnh hưởng của giá thể hữu cơ (xơ dừa, bèo hoa dâu, trấu hun, compost) đến hoa Mào Gà tại Thái Nguyên; nghiên cứu của Nguyễn Trần Thùy Anh (2015) về đặc điểm nông sinh học của hoa Mào Gà tại Hà Nội; các nghiên cứu tái chế bã cà phê làm phân hữu cơ - vi sinh và compost của Trường Đại học Văn Lang và Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (Vũ Hải Yến). Tác giả xác định trước đó chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng trực tiếp bã cà phê trên đối tượng hoa Mào Gà đuôi phụng.
- Đặc điểm sinh học và giá trị của cây: Mô tả hình thái rễ cọc ít phân nhánh, thân thảo đứng cao 25 - 35 cm, lá mọc lệch hình mác nhọn, cụm hoa dạng mào nhung hoặc chuỗi, quả chứa 8 - 10 hạt đen bóng. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 20 - 30°C. Về mặt đông y, hoa có vị ngọt, tính mát, thanh nhiệt, hỗ trợ điều trị trĩ, thổ huyết, kinh nguyệt không đều; sinh khối cây chứa protein lên đến 73%, các axit amin tryptophan, lysine cùng nhiều vitamin và khoáng chất.
Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm và các kỹ thuật đo đạc:
- Đối tượng là giống hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.), vật liệu gồm đất vườn, phân chuồng hoai mục, bã cà phê ủ hoai 1,5 tháng, phân bón thúc DAP và bánh dầu. Thiết bị bao gồm cân điện tử ABLEX, tủ sấy mẫu, thước dây đo chuyên dụng.
- Nội dung nghiên cứu chia làm 4 phần: đánh giá sinh trưởng thân lá; đánh giá thời gian phát dục sinh sản; đánh giá các chỉ tiêu năng suất hoa; và xác định tỷ lệ phối trộn bã cà phê tối ưu.
- Trình bày chi tiết công thức tính toán tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống, cường độ quang hợp theo công thức $I = \frac{P_2 - P_1}{S \times t}$, diện tích lá theo phương pháp cân giấy khối lượng, và hàm lượng nước tổng số theo tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mất đi khi sấy khô so với khối lượng tươi ban đầu.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và biện luận
Chương 3 trình bày các số liệu đo đạc thực nghiệm qua các giai đoạn sinh trưởng của cây:
- Tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ sống: Sau 10 ngày gieo, tỷ lệ nảy mầm trung bình của lô hạt giống đạt 83,75% (thấp hơn chỉ số công bố trên bao bì hạt giống là >85% do thời tiết gieo gặp lạnh). Khi đưa cây con ra chậu, có 2 cây bị chết trên tổng số 134 cây gieo ươm, đạt tỷ lệ sống sót 98,51%.
- Các chỉ tiêu sinh trưởng:
- Số lượng lá: Ở lần đo 1 (3 - 4 cặp lá thật), CT1 đạt trung bình cao nhất với 7,2 lá/cây, CTĐC đạt 6,8 lá/cây, CT3 đạt 6,0 lá/cây và CT2 đạt 5,6 lá/cây. Sang lần đo 2 (khi cây xuất hiện nụ), CTĐC vươn lên đạt 20,67 lá/cây, tiếp đến là CT1 (20,3 lá/cây), CT2 (20,0 lá/cây) và CT3 (19,8 lá/cây).
- Diện tích lá: Tăng dần theo tỷ lệ bổ sung bã cà phê. Ở lần đo 2, CT3 đạt diện tích lá lớn nhất (0,499 dm²), tiếp theo là CT2 (0,486 dm²), CT1 (0,479 dm²) và thấp nhất là CTĐC (0,469 dm²).
- Chiều cao cây: Qua 3 lần đo, CT1 luôn đạt chiều cao lớn nhất. Tại thời điểm hoa nở 50% (lần đo 3), chiều cao cây ở CT1 đạt 30,26 cm; CTĐC đạt 29,14 cm; trong khi CT2 và CT3 đều chỉ đạt 28,57 cm.
- Đường kính thân: Tại lần đo 3, CT1 đạt 0,98 cm; CTĐC đạt 0,97 cm; CT2 đạt 0,96 cm và CT3 đạt 0,94 cm.
- Phân nhánh cấp 1: Lần đo 2 ghi nhận CT1 đạt số nhánh nhiều nhất với 8,11 nhánh/cây; CTĐC đạt 8,00 nhánh/cây; CT2 đạt 7,56 nhánh/cây và CT3 đạt 7,00 nhánh/cây.
- Các chỉ tiêu sinh sản và năng suất:
- Thời gian ra nụ đầu tiên: CTĐC xuất hiện nụ sớm nhất sau 39,2 ngày. Các công thức có bã cà phê đều kéo dài thời gian sinh trưởng sinh dưỡng: CT1 ra nụ sau 40,2 ngày; CT3 sau 42,4 ngày; và CT2 kéo dài đến 48,1 ngày.
- Thời gian từ ra nụ đến khi hoa trưởng thành: Ngược lại với thời gian ra nụ, CT3 có thời gian hoa nở trưởng thành nhanh nhất (10,6 ngày), tiếp đến là CT2 (11,2 ngày), CT1 (12,5 ngày) và CTĐC chậm nhất (13,4 ngày).
- Số lượng bông/thân: CT1 đạt cao nhất với 10,6 bông/cây; CTĐC đạt 9,8 bông/cây; CT2 đạt 8,8 bông/cây và CT3 thấp nhất với 8,0 bông/cây.
- Chiều dài bông chính: Tại lần đo 2, CT1 đạt chiều dài bông lớn nhất (9,68 cm), cao hơn CTĐC (9,18 cm), CT2 (8,72 cm) và CT3 (8,60 cm).
- Độ bền tự nhiên của hoa: Hoa ở công thức có bổ sung bã cà phê giữ được độ bền lâu hơn. CT3 đạt độ bền cao nhất với 31,0 ngày; CT2 đạt 30,2 ngày; trong khi CT1 và CTĐC tương đương nhau với 27,8 ngày.
- Các chỉ tiêu sinh lý thực vật:
- Cường độ quang hợp: Chỉ tiêu ghi nhận được ở mức rất thấp so với lý thuyết (CTĐC đạt 0,11 mg/dm²/h; CT1 đạt 0,098 mg/dm²/h; CT2 đạt 0,086 mg/dm²/h; CT3 đạt 0,082 mg/dm²/h). Tác giả giải trình nguyên nhân là do trùng lịch thực tập sư phạm 2 nên thời điểm thu mẫu đo quang hợp diễn ra muộn khi cây đã bước vào giai đoạn sắp tàn.
- Khối lượng tươi và khô: CT1 đạt khối lượng tươi cao nhất (105,20 g/cây), tiếp theo là CTĐC (104,02 g/cây), CT2 (97,32 g/cây) và CT3 (97,07 g/cây). Tuy nhiên, khối lượng khô tuyệt đối của CTĐC lại cao nhất (33,58 g), kế đến là CT1 (32,15 g), CT2 (22,82 g) và CT3 (20,18 g).
- Hàm lượng nước tổng số: Tăng tỷ lệ thuận với lượng bã cà phê bổ sung. Tỷ lệ nước trong cây ở CT3 đạt cao nhất với 79,21%; CT2 đạt 76,55%; CT1 đạt 69,44%; và CTĐC đạt thấp nhất với 67,72%.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm về ảnh hưởng của các liều lượng bã cà phê khác nhau trong thành phần giá thể đối với sự phát triển của hoa Mào Gà đuôi phụng. Bảng tổng hợp dưới đây phản ánh các chỉ tiêu cấu thành năng suất và chất lượng hoa ở từng công thức:
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
CTĐC (0% bã cà phê) |
CT1 (25% bã cà phê) |
CT2 (30% bã cà phê) |
CT3 (35% bã cà phê) |
| Chiều cao cây cuối cùng (cm) |
29,14 |
30,26 |
28,57 |
28,57 |
| Đường kính thân lần 3 (cm) |
0,97 |
0,98 |
0,96 |
0,94 |
| Số nhánh cấp 1 (nhánh/cây) |
8,00 |
8,11 |
7,56 |
7,00 |
| Diện tích lá lần 2 (dm²) |
0,469 |
0,479 |
0,486 |
0,499 |
| Thời gian ra nụ đầu tiên (ngày) |
39,20 |
40,20 |
48,10 |
42,40 |
| Thời gian từ nụ đến hoa nở (ngày) |
13,40 |
12,50 |
11,20 |
10,60 |
| Số lượng bông trên cây (bông) |
9,80 |
10,60 |
8,80 |
8,00 |
| Chiều dài bông chính (cm) |
9,18 |
9,68 |
8,72 |
8,60 |
| Độ bền tự nhiên của hoa (ngày) |
27,80 |
27,80 |
30,20 |
31,00 |
| Trọng lượng tươi (g) |
104,02 |
105,20 |
97,32 |
97,07 |
| Trọng lượng khô (g) |
33,58 |
32,15 |
22,82 |
20,18 |
| Tỷ lệ nước trong cây (%) |
67,72 |
69,44 |
76,55 |
79,21 |
Các kết luận và đề xuất từ tác giả:
- Xác định công thức tối ưu: Công thức CT1 (tỷ lệ 25% bã cà phê phối trộn cùng đất và phân chuồng, tương đương 0,33 kg bã cà phê/chậu) mang lại kết quả toàn diện nhất. Cây ở công thức này dẫn đầu về chiều cao cây (30,26 cm), số nhánh (8,11 nhánh), đường kính thân (0,98 cm), số bông (10,6 bông), chiều dài bông (9,68 cm) và trọng lượng tươi (105,20 g).
- Ngưỡng giới hạn của bã cà phê: Mặc dù bã cà phê giàu dinh dưỡng hữu cơ và khoáng chất, việc tăng tỷ lệ phối trộn lên mức 30% (CT2) hoặc 35% (CT3) làm suy giảm đáng kể các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất hoa (số bông, chiều dài bông, chiều cao thân đều thấp hơn cả công thức đối chứng). Tuy nhiên, mức bổ sung bã cà phê cao lại giúp tăng diện tích lá, tăng khả năng tích trữ nước trong mô cây và kéo dài độ bền tự nhiên của hoa thêm 2,4 - 3,2 ngày so với đối chứng.
- Đóng góp mới của đề tài: Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên đánh giá cụ thể ngưỡng sử dụng bã cà phê đã qua ủ hoai mục làm giá thể trực tiếp cho loài hoa Mào Gà đuôi phụng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, chứng minh khả năng tái sử dụng phế phẩm bã cà phê trong việc nâng cao chất lượng cây hoa chậu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế phát sinh trong quá trình nghiên cứu thực tế:
- Điều kiện ngoại cảnh bất lợi: Vụ Đông Xuân 2016 - 2017 tại Tam Kỳ xuất hiện mưa lớn bất thường kéo dài và ngập lụt lịch sử trong tháng 12/2016, đi kèm nền nhiệt độ thấp đã ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống (chỉ đạt 83,75%, không đạt mức chuẩn bao bì trên 85%) và làm tăng nguy cơ phát sinh nấm bệnh trong giá thể.
- Hạn chế trong thu thập chỉ tiêu sinh lý: Do trùng lịch thực tập sư phạm 2 của sinh viên, việc đo chỉ tiêu cường độ quang hợp bị chậm tiến độ, thực hiện khi cây đã bước vào giai đoạn tàn lụi. Do đó, số liệu cường độ quang hợp đo được (0,082 - 0,110 mg/dm²/h) thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng sinh lý thực tế của thực vật C4 (40 - 80 mg/dm²/h).
- Quy mô nghiên cứu: Thí nghiệm dừng lại ở quy mô 60 chậu trong phạm vi vườn thực nghiệm của trường Đại học Quảng Nam và chỉ theo dõi trong một vụ duy nhất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả kiến nghị:
- Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu về bã cà phê để ứng dụng rộng rãi hơn trong kỹ thuật trồng trọt.
- Thử nghiệm bón giá thể bã cà phê trên nhiều đối tượng cây trồng và giống hoa cảnh khác nhau để đánh giá toàn diện giá trị nông học của loại phế phẩm này.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Sinh viên và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Sinh học, Kỹ thuật Nông nghiệp, Trồng trọt và Nông học: Tài liệu cung cấp quy trình hoàn chỉnh về phương pháp bố trí thí nghiệm trồng chậu ngẫu nhiên, các phương pháp xác định chỉ tiêu sinh lý thực vật (đo diện tích lá bằng phương pháp cân giấy, sấy khô xác định khối lượng tươi/khô, tính toán hàm lượng nước tổng số).
- Các nhà nghiên cứu và người sản xuất hoa cảnh: Cung cấp số liệu định lượng về công thức phối trộn giá thể hữu cơ từ bã cà phê ủ hoai mục (tỷ lệ chuẩn 25%) kết hợp phân chuồng và đất, giúp tiết kiệm chi phí mua giá thể thương phẩm và nâng cao năng suất bông.
- Lĩnh vực quản lý môi trường và tái chế phụ phẩm nông nghiệp: Đóng góp giải pháp kỹ thuật cụ thể về việc xử lý, ủ hoai bã cà phê trong 1,5 tháng để tái chế thành phân bón, giảm thiểu áp lực xả thải phế phẩm hữu cơ vào hệ thống cống rãnh đô thị.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ bã cà phê phối trộn bao nhiêu trong giá thể là thích hợp nhất cho hoa Mào Gà đuôi phụng?
Kết quả thực nghiệm xác định Công thức 1 (CT1) với tỷ lệ 25% bã cà phê tính theo khối lượng đất và phân chuồng (tương đương 0,33 kg bã cà phê + 1 kg đất + 0,33 kg phân chuồng cho mỗi chậu) là tối ưu nhất. Công thức này cho cây đạt chiều cao cao nhất (30,26 cm), số nhánh nhiều nhất (8,11 nhánh/cây), số lượng bông lớn nhất (10,6 bông/cây) và khối lượng tươi cao nhất (105,20 g).
2. Tại sao cường độ quang hợp ghi nhận trong khóa luận lại thấp hơn rất nhiều so với lý thuyết của loài thực vật C4?
Theo lý thuyết, hoa Mào Gà đuôi phụng là thực vật C4 có cường độ quang hợp từ 40 - 80 mg/dm²/h. Tuy nhiên, giá trị đo được trong khóa luận chỉ đạt từ 0,082 - 0,110 mg/dm²/h. Tác giả đã giải thích nguyên nhân là do thời gian thực hiện đề tài trùng với đợt thực tập sư phạm 2 nên không bố trí được thời gian lấy mẫu thích hợp, việc đo quang hợp bị dời đến thời điểm cây hoa đã già cỗi và bước vào giai đoạn sắp tàn lụi.
3. Việc tăng tỷ lệ bã cà phê lên mức 30% và 35% tác động như thế nào đến cây hoa?
Khi tăng nồng độ bã cà phê lên 30% (CT2) và 35% (CT3), bã cà phê gây ức chế sinh trưởng: chiều cao cây giảm (còn 28,57 cm), số nhánh giảm (còn 7,0 - 7,56 nhánh), số lượng bông giảm (còn 8,0 - 8,8 bông/cây) và khối lượng khô giảm đáng kể so với đối chứng. Tuy nhiên, tỷ lệ bã cà phê cao lại giúp cây tích trữ nhiều nước hơn (hàm lượng nước đạt 76,55% - 79,21%), diện tích lá lớn hơn (đạt 0,499 dm²) và kéo dài độ bền tự nhiên của hoa lên 30,2 - 31,0 ngày.
4. Quy trình xử lý bã cà phê và chế độ phân bón thúc trong thí nghiệm được thực hiện ra sao?
Bã cà phê phải được ngâm ủ trong thời gian 1,5 tháng trước khi đem phối trộn vào giá thể bón lót cùng với phân chuồng hoai mục. Trong quá trình chăm sóc, cây được bón thúc 3 lần: lần 1 (20 ngày tuổi) bón 2,25 kg phân DAP/công thức; lần 2 (35 ngày tuổi) bón 2,25 kg DAP kết hợp 1,5 kg bánh dầu (đã ngâm 7,5 lít nước trong 10 ngày); lần 3 (50 ngày tuổi) bón 2,25 kg bánh dầu.
5. Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống trong nghiên cứu đạt mức nào và bị chi phối bởi yếu tố gì?
Tỷ lệ nảy mầm sau 10 ngày gieo đạt 83,75% trên tổng số 160 hạt ngâm gieo. Mức này thấp hơn chỉ tiêu ghi trên bao bì hạt giống (>85%) do thời điểm gieo ươm rơi vào mùa đông có nhiệt độ thấp và diễn biến lượng mưa tại Tam Kỳ rất bất thường (tháng 12/2016 có lượng mưa lên tới 1205,3 mm gây ngập lụt).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Minh Quân đã thực hiện thành công việc đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng bã cà phê ủ hoai mục đến các chỉ tiêu nông sinh học của hoa Mào Gà đuôi phụng (Celosia plumosa L.) tại thành phố Tam Kỳ. Kết quả thực nghiệm khẳng định tỷ lệ phối trộn 25% bã cà phê trong giá thể đất và phân chuồng (CT1) giúp cây sinh trưởng tối ưu và đạt năng suất bông cao nhất, trong khi nồng độ vượt quá ngưỡng này (30 - 35%) sẽ gây ức chế phát triển thân nhánh nhưng lại giúp kéo dài độ bền tự nhiên của hoa. Công trình cung cấp các dữ liệu định lượng có giá trị thực tiễn cao, mở ra hướng ứng dụng bã cà phê làm phân bón hữu cơ phục vụ nghề trồng hoa cảnh và góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường đô thị.