Tổng quan nghiên cứu

Hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa do virus Porcine Circovirus type 2 (PCV2) gây ra là một trong những thách thức dịch tễ nghiêm trọng nhất đối với ngành chăn nuôi lợn toàn cầu. Tại Việt Nam, các kết quả khảo sát dịch tễ học tại 4 tỉnh trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Giang và Hải Dương ghi nhận tỷ lệ trang trại dương tính với kháng thể PCV2 lên tới 89,58% (43/48 trang trại). Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính trung bình đạt 70,57% trên tổng số 513 mẫu kiểm tra, trong đó đàn lợn nái có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 92,31% và lợn con theo mẹ đạt 88,24%.

Thực trạng này dẫn đến thiệt hại kinh tế nặng nề do tỷ lệ lợn còi cọc, chậm lớn và suy giảm miễn dịch tăng cao. Trong khi đó, hầu hết các loại vacxin phòng bệnh PCV2 lưu hành trên thị trường đều là sản phẩm ngoại nhập sản xuất từ các chủng thuộc kiểu gen PCV2a. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Lương Thị Hồng Nhâm, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Huỳnh Thị Mỹ Lệ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp thiết này.

Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính: xác định chỉ tiêu an toàn sinh học của vacxin vô hoạt PCV2 khi tiêm thử nghiệm trên đàn lợn và đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch dịch thể của lợn thông qua hàm lượng kháng thể đặc hiệu so với vacxin thương mại nhập ngoại. Đề tài được triển khai từ tháng 04/2015 đến tháng 09/2016 tại Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, đặt nền móng vững chắc cho việc tự chủ công nghệ sản xuất vacxin phòng hội chứng còi cọc từ chính nguồn chủng virus thực địa lưu hành tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở khoa học của đề tài được xây dựng trên nền tảng sinh học phân tử và dịch tễ học vi sinh vật của Porcine Circovirus. PCV2 là virus không có vỏ bọc ngoài, kích thước hạt virus siêu nhỏ chỉ từ 12 đến 23 nm với cấu trúc bộ gen ADN đơn vòng khép kín dài khoảng 1.767 đến 1.768 nucleotide. Bộ gen của virus chứa các khung đọc mở thiết yếu, trong đó ORF1 mã hóa enzyme sao chép replicase và ORF2 mã hóa protein vỏ capsid (Cap protein) đóng vai trò quyết định tính kháng nguyên và khả năng kích thích miễn dịch bảo hộ của vật chủ.

Lý thuyết về sự chuyển dịch kiểu gen (genotypic shift) trên quy mô toàn cầu từ kiểu gen PCV2a sang PCV2b cũng như sự phân bố của các phân nhánh di truyền 1A, 1B, 1C và dạng tái tổ hợp tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong định hướng nghiên cứu. Các hội chứng bệnh lý liên quan đến PCV2 (PCVAD) như hội chứng còi cọc sau cai sữa (PMWS), hội chứng viêm đường hô hấp phức hợp (PRDC) và hội chứng viêm da viêm thận (PDNS) thường gây tổn thương đặc trưng tại hạch lympho và hệ thống miễn dịch. Khung nghiên cứu cũng vận dụng lý thuyết miễn dịch học về sự chuyển hóa kháng thể dịch thể và sự suy giảm của kháng thể thụ động từ lợn mẹ truyền sang con với chu kỳ bán hủy trung bình khoảng 19 ngày để xác định thời điểm tiêm phòng tối ưu cho lợn con lúc 3 tuần tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ quy trình thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật. Tổng số 27 lợn thí nghiệm cai sữa 3 tuần tuổi khỏe mạnh, được xét nghiệm âm tính hoàn toàn với kháng nguyên PCV2 và kháng thể kháng PCV2, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đồng đều về trọng lượng và lứa tuổi. Đàn lợn được phân chia thành 3 lô thí nghiệm độc lập: lô tiêm vacxin thử nghiệm CircoVNUA (10 cá thể), lô tiêm vacxin thương mại Ingelvac CircoFLEX (10 cá thể) và lô đối chứng không tiêm vacxin (7 cá thể). Việc thiết kế các lô thí nghiệm có đối chứng song song là bắt buộc nhằm loại trừ các yếu tố nhiễu từ môi trường nuôi dưỡng và thức ăn.

Quy trình tạo chế phẩm vacxin dựa trên kỹ thuật nuôi cấy tế bào thận lợn PK15, cô đặc huyễn dịch virus bằng phương pháp siêu ly tâm ở tốc độ 35.000 vòng/phút trong 6 giờ, tinh sạch qua thang nồng độ đường sucrose 10% đến 50% và vô hoạt hoàn toàn bằng hóa chất Binary Ethyleneimine (BEI) nồng độ 0,2%. Kháng nguyên sau đó được phối trộn cùng chất bổ trợ nhũ dầu IMS 1313 để tạo thành vacxin CircoVNUA.

Chỉ tiêu vô trùng và độ thuần khiết của vacxin được kiểm tra nghiêm ngặt theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8684-2011 đối với 8 loại virus và vi khuẩn tạp nhiễm phổ biến. Khả năng đáp ứng miễn dịch được định lượng bằng kỹ thuật Blocking ELISA thông qua chỉ số S/N với ngưỡng dương tính được xác định khi S/N ≤ 0,4. Các số liệu thu thập về thể trọng, thân nhiệt và nồng độ kháng thể được phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) trên phần mềm chuyên dụng và kiểm định Chi-square/Fisher Exact Test nhằm bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy khoa học ở mức ý nghĩa 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đạt được những kết quả nổi bật trong việc chế tạo và đánh giá vacxin vô hoạt PCV2:

  1. Chế tạo thành công vacxin vô hoạt CircoVNUA đạt chuẩn tinh khiết và vô trùng: Ba chủng virus giống gốc (chủng 03, 04 và 07) phân lập tại Việt Nam đều đạt hiệu giá virus cao trên 10^5 TCID50/ml. Kỹ thuật siêu ly tâm 35.000 vòng/phút đã thu hồi tối đa lượng virus tinh sạch. Quá trình xử lý bằng BEI 0,2% ở 37 °C trong 10 giờ đã vô hoạt hoàn toàn virus, được kiểm chứng qua 3 lần tiếp đời liên tiếp trên tế bào PK15 bằng kỹ thuật IFA và RT-PCR âm tính 100%. Toàn bộ các mẫu kiểm tra vô trùng theo TCVN 8684-2011 đều đạt tiêu chuẩn.

  2. Vacxin thử nghiệm đạt chỉ tiêu an toàn sinh học tuyệt đối: Trong suốt 84 ngày theo dõi sau khi tiêm, lợn ở lô tiêm CircoVNUA duy trì thân nhiệt ổn định ở mức 39,3 ± 0,3 °C, hoàn toàn tương đồng với thân nhiệt sinh lý bình thường của lợn khỏe mạnh. Không có bất kỳ cá thể nào biểu hiện sốc phản vệ, dị ứng cục bộ, rối loạn hô hấp hay tiêu hóa.

  3. Tăng trưởng thể trọng vượt trội và triệt tiêu tỷ lệ còi cọc: Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm (ngày D84, 15 tuần tuổi), khối lượng trung bình của lô tiêm vacxin CircoVNUA đạt 44,30 ± 7,06 kg, cao hơn 2,59 kg so với lô đối chứng không tiêm (41,71 ± 9,09 kg) và tiệm cận tương đương với lô tiêm vacxin thương mại CircoFLEX (45,10 ± 8,49 kg). Đặc biệt, tỷ lệ lợn còi cọc chậm lớn ở lô CircoVNUA là 0/10 cá thể (0%), trong khi lô đối chứng ghi nhận tỷ lệ chậm lớn là 1/7 cá thể (khoảng 14,29%) và lô CircoFLEX là 1/10 cá thể (10%).

  4. Đáp ứng miễn dịch dịch thể kéo dài: Động thái sản sinh kháng thể kháng PCV2 ở lợn tiêm CircoVNUA xuất hiện rõ rệt từ 7 đến 14 ngày sau khi tiêm và duy trì độ dài miễn dịch bền vững đến hết 84 ngày theo dõi.

Thảo luận kết quả

Diễn biến tăng khối lượng của đàn lợn thí nghiệm qua các mốc thời gian D0, D14, D28, D42, D56, D70 và D84 có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường tăng trưởng và bảng phân tích phương sai. Trong 28 ngày đầu sau tiêm, sự chênh lệch khối lượng giữa 3 nhóm lợn là rất nhỏ (dưới 1 kg). Tuy nhiên, từ ngày D42 đến ngày D84, sự phân hóa về khối lượng thể hiện rõ rệt khi các lô tiêm vacxin đều có mức tăng trọng vượt hơn đàn đối chứng từ 1,81 kg đến 4,66 kg. Phân tích phương sai One-way ANOVA cho thấy giá trị F thực nghiệm = 0,37 nhỏ hơn nhiều so với F lý thuyết = 3,44, khẳng định vacxin CircoVNUA không gây bất kỳ tác động tiêu cực nào tới sự phát triển tự nhiên của đàn lợn.

Kết quả mổ khám đại thể và phân tích tiêu bản vi thể nhuộm H&E tại các hạch lympho bẹn nông, hạch màng treo ruột và phổi của lợn tiêm CircoVNUA không ghi nhận hiện tượng thoái hóa, hoại tử hay sự xuất hiện của các tế bào khổng lồ đa nhân. Điều này chứng minh kháng nguyên vô hoạt đã được xử lý triệt để độc lực.

So sánh với vacxin thương mại nhập ngoại Ingelvac CircoFLEX, vacxin CircoVNUA cho thấy độ đồng đều thể trọng của đàn lợn cao hơn với độ lệch chuẩn khối lượng thấp hơn tại thời điểm D84 (7,06 kg so với 8,49 kg). Mặc dù hiệu giá kháng thể tối đa của vacxin thử nghiệm có phần thấp hơn vacxin thương mại do nồng độ kháng nguyên ban đầu, nhưng độ dài đáp ứng bảo hộ kéo dài 12 tuần hoàn toàn đáp ứng yêu cầu phòng hộ thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả khoa học đã đạt được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp và khuyến nghị hành động cụ thể:

  1. Hoàn thiện và nâng cấp quy trình công nghệ sản xuất vacxin quy mô công nghiệp: Các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược phẩm thú y cần tiếp tục tối ưu hóa hệ thống nuôi cấy tế bào PK15 trên các bình bioreactor để nâng cao hiệu giá virus giống đạt từ 10^6 đến 10^7 TCID50/ml. Mục tiêu hướng tới là giảm giá thành sản xuất chế phẩm từ 20% đến 30% so với vacxin nhập ngoại trong lộ trình từ năm 2017 đến năm 2019.

  2. Chuẩn hóa phác đồ tiêm chủng phòng bệnh PCV2 tại các trang trại: Chi cục Thú y và các bác sĩ thú y cơ sở cần khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng lịch tiêm phòng vacxin vô hoạt cho lợn con lúc 3 tuần tuổi (21 ngày tuổi) với liều tiêm bắp 2 ml/con, kết hợp mũi tiêm nhắc lại sau 14 ngày. Mục tiêu là thiết lập tỷ lệ bảo hộ miễn dịch trên 95% đàn lợn trước giai đoạn mẫn cảm cao điểm từ 6 đến 12 tuần tuổi.

  3. Mở rộng thử nghiệm lâm sàng trên các quy mô đàn thực địa: Doanh nghiệp sản xuất phối hợp cùng cơ quan quản lý thú y triển khai khảo nghiệm diện rộng trên quy mô tối thiểu từ 5.000 đến 10.000 lợn thịt tại các vùng chăn nuôi trọng điểm phía Bắc trong thời gian 12 đến 24 tháng nhằm kiểm chứng năng lực giảm tỷ lệ hao hụt và loại thải đàn xuống dưới mức 3%.

  4. Tăng cường các biện pháp an toàn sinh học và quản lý đàn: Chủ trang trại chăn nuôi cần thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi cùng vào - cùng ra, định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại bằng dung dịch xút (NaOH) hoặc các hợp chất oxy hóa mạnh nhằm tiêu diệt 99% mầm bệnh tồn lưu trong môi trường, kết hợp bổ sung vitamin E và Selen vào khẩu phần ăn hàng ngày để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho đàn lợn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Vi sinh vật - Thú y: Luận văn cung cấp quy trình chi tiết về kỹ thuật phân lập, siêu ly tâm tinh sạch virus ở tốc độ 35.000 vòng/phút và phương pháp vô hoạt PCV2 bằng BEI 0,2%, làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu phát triển các dòng vacxin thú y thế hệ mới.

  2. Doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y và chế phẩm sinh học: Tài liệu mang lại cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng giúp các doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ, tối ưu hóa công thức chất bổ trợ nhũ dầu IMS 1313 để sớm thương mại hóa dòng vacxin PCV2 bản địa với chi phí cạnh tranh.

  3. Kỹ sư chăn nuôi và Bác sĩ thú y tại các trang trại quy mô công nghiệp: Cung cấp hiểu biết sâu sắc về diễn biến động thái kháng thể dịch thể và các triệu chứng bệnh tích vi thể, giúp xây dựng phác đồ can thiệp dịch tễ và kiểm soát hiệu quả hội chứng còi cọc sau cai sữa cho đàn lợn từ 3 tuần tuổi.

  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm động vật có đối chứng trên 27 cá thể, kỹ thuật chẩn đoán ELISA/PCR và phương pháp xử lý số liệu sinh học bằng mô hình phân tích phương sai ANOVA.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vacxin vô hoạt CircoVNUA được chế tạo từ chủng virus nào và có ưu thế gì? Vacxin CircoVNUA được sản xuất từ 3 chủng PCV2 (chủng 03, 04 và 07) phân lập trực tiếp tại các ổ dịch ở miền Bắc Việt Nam, thuộc kiểu gen PCV2b chiếm ưu thế. Ưu thế nổi bật của vacxin là tính tương thích kháng nguyên rất cao với các chủng virus thực địa đang lưu hành trong nước, mang lại hiệu quả bảo hộ trúng đích hơn so với các chủng vacxin nhập khẩu thuộc kiểu gen PCV2a.

  2. Phương pháp vô hoạt virus PCV2 bằng hóa chất BEI có đảm bảo an toàn tuyệt đối không? Quy trình vô hoạt bằng Binary Ethyleneimine (BEI) nồng độ 0,2% ở 37 °C trong 10 giờ đã tiêu diệt hoàn toàn khả năng nhân lên của virus mà vẫn bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc kháng nguyên bề mặt. Kết quả kiểm tra qua 3 lần cấy chuyển liên tiếp trên tế bào PK15 bằng kỹ thuật IFA và RT-PCR đều âm tính, đồng thời không gây sốc hay bệnh tích trên động vật thí nghiệm.

  3. Việc tiêm vacxin CircoVNUA giúp cải thiện thể trọng và giảm tỷ lệ còi cọc như thế nào? Sau 84 ngày theo dõi, lợn tiêm vacxin CircoVNUA đạt trọng lượng trung bình 44,30 kg, vượt trội hơn 2,59 kg so với nhóm đối chứng không tiêm (41,71 kg). Đáng chú ý nhất, tỷ lệ lợn còi cọc chậm lớn ở lô tiêm CircoVNUA là 0%, trong khi lô không tiêm phòng ghi nhận tỷ lệ chậm lớn lên tới khoảng 14,29%.

  4. Kháng thể thụ động từ lợn mẹ ảnh hưởng như thế nào đến thời điểm tiêm vacxin? Kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu có chu kỳ bán hủy khoảng 19 ngày và sẽ suy giảm xuống mức thấp sau 3 đến 6 tuần tuổi. Do đó, thời điểm 3 tuần tuổi (ngày D0) là mốc thời gian lý tưởng nhất để tiêm vacxin, giúp cơ thể lợn con tự sản sinh kháng thể chủ động bảo vệ cơ thể kéo dài bền vững đến 15 tuần tuổi.

  5. Độ vô trùng của vacxin CircoVNUA được thẩm định theo quy chuẩn nào? Chế phẩm vacxin được kiểm nghiệm nghiêm ngặt theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8684-2011 trên hàng loạt môi trường chuyên dụng như thạch máu, MacConkey, Sabouraud, PPLO và môi trường tế bào PK15. Kết quả kiểm tra khẳng định vacxin vô trùng 100%, hoàn toàn sạch tạp khuẩn hiếu khí, kỵ khí, nấm mốc, Mycoplasma và 8 loại virus lây nhiễm nguy hiểm khác.

Kết luận

  • Tuyển chọn thành công 3 chủng virus PCV2 bản địa (03, 04, 07) đạt hiệu giá cao trên 10^5 TCID50/ml, có đặc tính di truyền ổn định để làm giống sản xuất vacxin.
  • Xây dựng hoàn chỉnh quy trình siêu ly tâm tinh sạch 35.000 vòng/phút và vô hoạt hoàn toàn bằng BEI 0,2% trong 10 giờ, tạo ra vacxin CircoVNUA đạt chuẩn vô trùng theo TCVN 8684-2011.
  • Chứng minh độ an toàn sinh học tuyệt đối trên động vật, duy trì thân nhiệt chuẩn 39,3 ± 0,3 °C và không để lại bất kỳ bệnh tích đại thể hay vi thể nào tại hạch lympho.
  • Nâng cao năng suất chăn nuôi rõ rệt khi giúp lợn tăng thêm 2,59 kg thể trọng ở 15 tuần tuổi và triệt tiêu hoàn toàn tỷ lệ lợn còi cọc xuống mức 0%.
  • Kích thích đáp ứng miễn dịch dịch thể bền vững kéo dài đến 84 ngày sau tiêm, tương đương với các dòng vacxin thương mại hàng đầu thế giới.

Công trình nghiên cứu của tác giả Lương Thị Hồng Nhâm đã khẳng định tính khả thi trong việc tự chủ sản xuất vacxin phòng bệnh do PCV2 tại Việt Nam. Để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi, các cơ quan chức năng và doanh nghiệp cần nhanh chóng hoàn tất các bước khảo nghiệm thực địa quy mô lớn nhằm sớm cấp phép lưu hành vacxin trong thời gian tới. Quý độc giả, nhà khoa học và các đơn vị chăn nuôi quan tâm có thể liên hệ bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận toàn văn luận văn và trao đổi hợp tác chuyển giao công nghệ.