CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÁN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về “màu sắc” trong ngôn ngữ 1.
Trên thế giới Lịch sử nghiên cứu về màu sắc ghi nhận những biến đổi trong đường hướng nghiên cứu kể từ sự ra đời công trình Basic Color Terms: Their Universality and Evolution của Berlin và Kay (1969), khép lại giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối (Sapir Whorf) và trường phái Phổ niệm (Berlin - Kay), mở ra giai đoạn mới với sự đa dạng về quan điểm và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về từ chỉ màu sắc. Phản biện lý thuyết phổ niệm về hệ thống từ chỉ màu, Kay và Mc Daniel (1978) trong The Linguistic Significance of the Meanings of Basic Color Terms; Hardin & Maffi (1997) trong Color Categories in Thought and Language đã đưa ra những kiến giải thú vị về vấn đề tên màu, phân loại từ chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ, cho thấy có những ràng buộc chung trong cách đặt tên màu. Quá trình nhận thức màu sắc được giải thích dựa trên các quá trình sinh lý học thần kinh của con người. Đào sâu vấn đề các phổ quát ngữ nghĩa và quá trình phát triển từ chỉ màu, Biggam và Kay (2006) trong Progress in Colour Studies – volume I tiếp tục mở rộng, bổ sung nội hàm: ngữ nghĩa màu sắc, một mô hình mới; hệ thống từ chỉ màu cơ bản và các màu phái sinh: ý nghĩa và các thuộc tính tương quan, vv… Hướng nghiên cứu này tiếp tục được phát triển trong các nghiên cứu của các tác giả Biggam, Hough & Simmons (2011) trong New Direction in Colour Studies và những kiến giải quá trình đặt tên màu trong các ngôn ngữ cụ thể của Steinvall (2002) với English Colour Terms in Context; Wu (2011) với The Evolution of Basic Color Terms in Chinese… Theo hướng nghiên cứu liên ngành văn hóa - ngôn ngữ, Jean Checvalier và Alain Gheerbran (1996) trong The Penguin dictionary of symbols đã đi sâu nghiên cứu giá trị biểu trưng của màu sắc trong các nền văn hóa, ý nghĩa của các biểu tượng văn hóa, trong đó có màu sắc.
Các tác giả Silvestre, Cardeira và Villalva (2016) trong công trình Colour and Colour Naming: Crosslinguistic Approaches đề xuất hướng nghiên cứu 5 đa văn hóa với các màu phái sinh trong các ngôn ngữ. Theo hướng nghiên cứu tri nhận, ứng dụng lý thuyết điển dạng, Rosch, H. (1973) với bài viết “Natural Categories” in trong tạp chí Cognitive Psychology, nghiên cứu của Rosch & Carolyn (1975) đã khảo cứu cứ liệu màu sắc theo các quy trình: lựa chọn kích thích - nhận diện, phân loại - gọi tên, chỉ ra các đặc trưng điển dạng với ý nghĩa “ví dụ đạt nhất” của phạm trù màu sắc, điều chỉnh những bất cập trong nghiên cứu buổi đầu về màu sắc của Berlin và Kay; Lakoff (1987) trong Women, Fire, and Dangerous: What Categories Reveal about the Mind cũng đã chỉ ra rằng các phạm trù chỉ màu sắc đều có các phần tử trung tâm và các thuật ngữ chỉ các phần tử này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở; Taylor (1995) trong công trình Linguistic Categorization Prototypes in Linguistic Theory sử dụng điển dạng như một phần của phạm trù hóa để mô tả các từ chỉ màu… Luận điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc ngày càng được bổ sung, làm rõ trong các nghiên cứu của Lucy (1997) với bài viết “The linguistics of color” in trong Color categories in thought and language; Lindsey & Brown (2004), với “Color naming and color consensus: “Blue” is special” in trong Journal of vision đã làm sáng rõ cơ sở nghiệm thân trong tri nhận màu sắc dựa trên các quá trình sinh lý thần kinh của con người. Giải thích cơ chế tri nhận màu sắc, Lakoff (1999) trong Philosophy in the Flesh đã lí giải về ý niệm màu sắc.
Theo ông, “khoa học nhận thức đã cho chúng ta biết rằng màu sắc không tồn tại trong thế giới bên ngoài. Cơ thể và não bộ của chúng ta đã phát triển để tạo ra màu sắc”. Về cơ bản, tri nhận màu sắc của con người dựa trên sự trải nghiệm cơ thể. Ở Việt Nam Nhìn chung, từ những năm 1980 của thế kỷ XX cho đến nay kết quả nghiên cứu “màu sắc” ghi nhận sự tiếp nối, phát triển các công trình, bài viết với mục đích làm rõ đặc điểm bản chất “màu sắc” trong tiếng Việt.
Từ bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, Hoàng Văn Hành (1982) với bài viết Về cấu trúc nghĩa của tình từ tiếng Việt, Chu Bích Thu với các công trình nghiên cứu: Thành phần đánh giá trong ngữ nghĩa một số tính từ; Thêm một nhận xét về sự hình thành từ láy trong tiếng Việt; Những đặc 6 trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại; Đào Thản (1992) với Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát; Nguyễn Thị Liên (2004) với Sự biểu đạt ý nghĩa màu sắc của từ ngữ tiếng Việt; Nguyễn Khánh Hà (2014) với Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt … nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ màu sắc. Từ bình diện ngôn ngữ văn chương, Đào Thản (1976) với Màu đỏ trong thơ; Trần Văn Sáng (2009) với Thế giới màu sắc trong ca dao; Nguyễn Thị Thành Thắng (2001) với Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính … cho thấy ý nghĩa biểu đạt của từ ngữ chỉ màu sắc trong hoạt động hành chức – gắn liền với đời sống văn chương, thơ ca dân tộc. Theo hướng nghiên cứu văn hóa, Trịnh Thị Minh Hương (2009) với Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt; Lê Thị Vy (2013) trong Vài nét đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu sắc. nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các màu cơ bản trong ngôn ngữ.
Theo hướng tri nhận, ghi nhận kết quả bước đầu trong nghiên cứu điển dạng màu đen của Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Văn Quang (2016) trong Điển dạng màu đen trong tiếng Việt và tiếng Anh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận; Nguyễn Thị Hạnh Phương (2017) với Về ý niệm “ĐỎ” trong tiếng Việt. Tổng quan nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc 1. Trên thế giới Kiến giải ẩn dụ ý niệm màu sắc gắn với miền đích cảm xúc, Apresjan (1997) trong Emotion metaphor and Cross – Linguitic Conceptualisation of Emotion đã mô tả ẩn dụ cảm xúc liên quan đến “màu sắc” với mô hình ẩn dụ ý niệm CẢM XÚC LÀ MÀU SẮC trong nhóm các ẩn dụ văn hóa. Theo ông, các ẩn dụ ý niệm màu sắc, với sự ràng buộc chung là tất cả cảm xúc đều hoặc có thể được biểu hiện trong sự thay đổi màu sắc với hai sự đối lập.
Một sự đối lập là giữa ánh sáng và bóng tối, sắc độ của màu. Sự đối lập thứ hai, trải đều trên toàn bộ thang màu và phân biệt các màu như xanh dương, xanh lá cây, đỏ, đen, trắng, xám, vàng… Đào sâu, mô tả ánh xạ trong ẩn dụ ý niệm màu sắc, Sandford (2014) với bài viết: Turn a Colour with Emotion: a Linguistic Construction of 7 Colour in English đã chỉ ra màu sắc liên quan đến cảm xúc tiêu cực là trắng, đen, đỏ, xanh; các màu liên quan đến cảm xúc tích cực là vàng, xanh, cam và hồng. Strudsholm (2016) với Metaphor and Emotion in Colour Word đã phân tích ý nghĩa của ẩn dụ ý niệm gắn với màu xanh, đỏ và đen… Theo hướng so sánh, đối chiếu, Guimei He (2011) trong A Comparative Study of Color Metaphor in English and Chinese; Wijana (2015) với Metaphor of Colors in Indonesian; Kolahdouz (2015) trong A Cognitive to Translating Color Metaphor in English and Turkish Proverbs, vv… ở những mức độ khác nhau đã đi sâu nghiên cứu ẩn dụ như một hiện tượng phổ biến, một hình ảnh của lời nói, chỉ ra nét tương đồng trong ẩn dụ ý niệm màu sắc trong các ngôn ngữ. Theo hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ- văn hóa, Löffler (2017) trong công trình Color, Metaphor and Culture trên cơ sở tổng thuật kết quả nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc, đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm lý thuyết ẩn dụ ý niệm màu sắc với các mô hình GIẬN DỮ LÀ ĐỎ, BUỒN LÀ MÀU XANH DA TRỜI, TÍCH CỰC LÀ TƯƠI SÁNG - TIÊU CỰC LÀ TỐI, HẠNH PHÚC LÀ TƯƠI SÁNG - BUỒN LÀ TỐI, NỮ LÀ SÁNG – NAM LÀ TỐI.
Ở Việt Nam Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc, ghi nhận một số lượng không nhiều các công trình, bài viết. Kết quả nghiên cứu còn khá hạn chế với các công trình như: Bước đầu khảo sát ẩn dụ tình cảm trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt của Vi Trường Phúc (2007); Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ của Trần Thị Lan Anh (2017); Ẩn dụ ý niệm trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014); Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh) của Trần Thế Phi (2016),… Như vậy, từ thế kỷ XX, trên thế giới, màu sắc đã trở thành đối tượng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ nhiều bình diện khác nhau. Kết quả nghiên cứu một mặt cho thấy một mô hình có thể dự đoán được trong hệ thống từ chỉ màu sắc, mặt khác, cho thấy tính chất đặc thù của hệ thống từ chỉ màu trong từng ngôn ngữ, mô tả các ẩn dụ 8 màu sắc cơ bản trong các ngôn ngữ, đánh dấu bước tiến đáng ghi nhận trong ứng dụng lý thuyết tri nhận vào thực tiễn nghiên cứu ẩn dụ ý niệm màu sắc trong các ngôn ngữ. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã ứng dụng lý thuyết về ẩn dụ ý niệm để tiếp cận, khai thác phương thức ẩn dụ ý niệm màu sắc.
Tuy nhiên kết quả nghiên còn hạn chế. Thứ nhất, ý niệm màu sắc về cơ bản chỉ được đề cập với tư cách thuộc tính của một miền nguồn ánh xạ lên miền đích con người. Thứ hai, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc, quan hệ giữa miền nguồn màu sắc và miền đích con người giới hạn trong sự ánh xạ từ miền nguồn màu sắc đến miền đích cảm xúc. Nhìn chung ở Việt Nam đến nay, chưa có một công trình chuyên sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt, cho thấy cần thiết có những nghiên cứu đầy đủ hơn.
Kết quả đạt được đã gợi mở cho hướng nghiên cứu về Ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt của chúng tôi. Luận án này chính là sự lấp đầy “khoảng trống” nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt.