Tổng quan luận án

Đề tài "Ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Liên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Thị Nhàn và PGS.TS. Trần Văn Sáng tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (bảo vệ năm 2022, chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số: 9229020). Luận án tiếp cận hệ thống ngôn ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu cách thức người Việt sử dụng phạm trù màu sắc làm phương tiện tri nhận thế giới xung quanh.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận từ thập niên 1980 đến nay, xem ẩn dụ ý niệm như một phương thức tư duy giúp con người mở rộng hiểu biết về đối tượng trừu tượng thông qua một đối tượng cụ thể đã biết. Trong tư duy của người Việt, màu sắc là một phạm trù tri nhận quan trọng, được sử dụng làm miền nguồn (source domain) để chuyển di thuộc tính sang các miền đích (target domain) mang tính trừu tượng. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đó về màu sắc chủ yếu tập trung vào cấu trúc ngữ pháp, đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc, hoặc chỉ khảo sát thuộc tính điển dạng của một số màu riêng lẻ. Một số công trình ứng dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm nhưng chỉ dừng lại ở việc xem màu sắc như thuộc tính của miền nguồn chiếu lên miền đích con người trong phạm vi cảm xúc hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo, toàn diện và có hệ thống về ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt trải rộng trên nhiều miền đích khác nhau.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm bốn điểm chính:

  1. Vận dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm vào nghiên cứu ẩn dụ ý niệm từ miền nguồn màu sắc trong tiếng Việt.
  2. Tìm hiểu và lý giải cơ chế ánh xạ từ miền nguồn màu sắc đến các miền đích tri nhận khác nhau.
  3. Cung cấp hiểu biết cụ thể về các mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm màu sắc được sử dụng trong đời sống của người Việt.
  4. Đưa ra cái nhìn toàn diện về ẩn dụ ý niệm màu sắc trong phương thức tư duy và giá trị tri nhận của người Việt; qua đó góp phần ứng dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm vào thực tiễn tiếng Việt và khám phá đặc trưng tri nhận của dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nội dung:

  • Thứ nhất: Tìm hiểu sự chọn lọc và phân bố các thuộc tính điển dạng giữa miền nguồn màu sắc và các miền đích; khám phá các ánh xạ có tính hệ thống giữa miền nguồn màu sắc và các miền đích trải nghiệm trong phương thức tư duy người Việt.
  • Thứ hai: Thiết lập và phân tích mô hình ẩn dụ ý niệm màu sắc được sử dụng trong đời sống của người Việt gắn liền với môi trường văn hóa, xã hội Việt Nam.
  • Thứ ba: Kiến giải về đặc trưng tri nhận, phương thức tư duy của người Việt trong quá trình sử dụng tiếng Việt để nhận thức thế giới xung quanh.

Đối tượng nghiên cứu là các ý niệm, ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt (gồm ẩn dụ ý niệm màu sắc về con người, đời sống xã hội và hiện tượng tự nhiên) được xác lập từ ngữ liệu thu thập. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ẩn dụ ý niệm màu sắc gắn với chức năng tri nhận theo đường hướng của G. Lakoff và Z. Kövecses, làm rõ các loại màu sắc tạo ra ánh xạ từ miền nguồn sang các miền đích trong tiếng Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được chia tách thành hai trục chính: nghiên cứu về phạm trù màu sắc trong ngôn ngữ và nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm màu sắc.

Về nghiên cứu màu sắc trên thế giới:

  • Xuất phát điểm từ công trình Basic Color Terms: Their Universality and Evolution của Berlin và Kay (1969), khép lại giai đoạn đối đầu giữa trường phái Tương đối (Sapir - Whorf) và trường phái Phổ niệm (Berlin - Kay).
  • Kay và McDaniel (1978) trong The Linguistic Significance of the Meanings of Basic Color Terms cùng Hardin và Maffi (1997) trong Color Categories in Thought and Language đã giải thích quá trình nhận thức màu sắc dựa trên cơ sở sinh lý học thần kinh.
  • Biggam và Kay (2006) trong Progress in Colour Studies – volume I, Biggam, Hough và Simmons (2011) trong New Direction in Colour Studies, Steinvall (2002) với English Colour Terms in Context, và Wu (2011) với The Evolution of Basic Color Terms in Chinese tiếp tục mở rộng mô hình ngữ nghĩa màu sắc, hệ thống từ chỉ màu cơ bản và phái sinh trong các ngôn ngữ cụ thể.
  • Hướng tiếp cận văn hóa - ngôn ngữ ghi nhận Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (1996) trong The Penguin Dictionary of Symbols nghiên cứu biểu trưng văn hóa của màu sắc; Silvestre, Cardeira và Villalva (2016) trong Colour and Colour Naming: Crosslinguistic Approaches đề xuất nghiên cứu đa văn hóa với các màu phái sinh.
  • Hướng tiếp cận tri nhận và lý thuyết điển dạng ghi nhận Eleanor Rosch (1973, 1975) khảo cứu cứ liệu màu sắc theo quy trình nhận diện - phân loại - gọi tên; Lakoff (1987) trong Women, Fire, and Dangerous Things chỉ ra phần tử trung tâm trong phạm trù màu; Taylor (1995) trong Linguistic Categorization Prototypes in Linguistic Theory; Lucy (1997) với The linguistics of color; Lindsey và Brown (2004) với Color naming and color consensus: "Blue" is special; và Lakoff (1999) trong Philosophy in the Flesh khẳng định cơ sở nghiệm thân trong tri nhận màu sắc.

Về nghiên cứu màu sắc ở Việt Nam:

  • Bình diện từ vựng - ngữ nghĩa: Hoàng Văn Hành (1982), Chu Bích Thu, Đào Thản (1992) với Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát, Nguyễn Thị Liên (2004) với Sự biểu đạt ý nghĩa màu sắc của từ ngữ tiếng Việt, Nguyễn Khánh Hà (2014) với Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt.
  • Bình diện ngôn ngữ văn chương: Đào Thản (1976) với Màu đỏ trong thơ, Trần Văn Sáng (2009) với Thế giới màu sắc trong ca dao, Nguyễn Thị Thành Thắng (2001) với Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Thị Mai (2014) với Màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh.
  • Bình diện văn hóa: Trịnh Thị Minh Hương (2009) với Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, Lê Thị Vy (2013) với Vài nét đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu sắc.
  • Bình diện tri nhận bước đầu: Hoàng Tuyết Minh và Nguyễn Văn Quang (2016) với Điển dạng màu đen trong tiếng Việt và tiếng Anh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Nguyễn Thị Hạnh Phương (2017) với Về ý niệm "ĐỎ" trong tiếng Việt.

Về nghiên cứu ẩn dụ ý niệm màu sắc:

  • Trên thế giới: Apresjan (1997) trong Emotion metaphor and Cross-Linguistic Conceptualisation of Emotion đề xuất mô hình CẢM XÚC LÀ MÀU SẮC dựa trên hai cặp đối lập (sáng - tối và thang màu); Sandford (2014) khảo sát cảm xúc gắn với màu sắc trong tiếng Anh; Strudsholm (2016) phân tích ẩn dụ màu xanh, đỏ, đen; Guimei He (2011), Wijana (2015), Kolahdouz (2015) nghiên cứu so sánh đối chiếu; Löffler (2017) trong Color, Metaphor and Culture tổng thuật các mô hình thực nghiệm như GIẬN DỮ LÀ ĐỎ, BUỒN LÀ MÀU XANH DA TRỜI, TÍCH CỰC LÀ TƯƠI SÁNG - TIÊU CỰC LÀ TỐI.
  • Ở Việt Nam: Vi Trường Phúc (2007) khảo sát thành ngữ Hán - Việt, Trần Thị Lan Anh (2017) khảo sát thơ kịch Lưu Quang Vũ, Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014) khảo sát ca từ Trịnh Công Sơn, Trần Thế Phi (2016) khảo sát ẩn dụ cảm xúc trong thành ngữ đối chiếu Anh - Việt.

Khoảng trống mà luận án giải quyết: Các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây giới hạn màu sắc ở tư cách thuộc tính của miền nguồn chiếu lên miền đích cảm xúc của con người. Luận án này mở rộng nghiên cứu một cách hệ thống sang ba miền đích lớn: Con người (tâm lý, xã hội, sinh học, tâm linh), Đời sống xã hội (kinh tế, giáo dục, chính trị, tinh thần) và Hiện tượng tự nhiên (thời gian, sự vật).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai trên nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận, sử dụng một hệ thống các khái niệm công cụ và khung phân tích chuyên ngành:

  • Các khái niệm nền tảng: Phạm trù (category) và phạm trù hóa (categorization); Ý niệm (concept) và sự ý niệm hóa (conceptualization); Không gian tinh thần (mental space) và mô hình tri nhận (cognitive models); Tính nghiệm thân (embodiment); Lược đồ hình ảnh (image schema); Điển dạng (prototype).
  • Lý thuyết ẩn dụ ý niệm của G. Lakoff và M. Johnson (1980, 1993): Cấu trúc MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN ("A LÀ B"). Ánh xạ (mapping) là cơ chế chiếu các thuộc tính từ miền nguồn sang miền đích. Phân loại gồm ba dạng: ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor), ẩn dụ bản thể (ontological metaphor), và ẩn dụ định hướng (orientational metaphor).
  • Khái niệm về phạm trù màu sắc: Dựa theo William A. Foley (2001), màu sắc thay đổi theo ba chiều: sắc độ (hue), độ bão hòa (saturation), độ sáng (luminance), nhận biết qua hai trục tối/lạnh (dark/cool) và sáng/ấm (light/warm).
  • Bảy nhóm ý niệm màu sắc trong tiếng Việt: (1) Màu cụ thể/tên màu (đen, trắng, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím, xám...); (2) Sắc độ (đậm, nhạt, biếc, thẫm...) và độ sáng (sáng, tối); (3) Tính nhiệt cảm nhận (nóng/ấm, lạnh/mát, âm, dương); (4) Dạng thể đại diện (máu, mực, giấy...); (5) Nguồn màu sắc (ánh sáng, bóng đêm...); (6) Giá trị thẩm mỹ/tri nhận (tích cực, tiêu cực...); (7) Hoạt động của con người với màu sắc (phủ, nhúng, xóa, bôi, tô...).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp miêu tả: Dùng để miêu tả các biểu thức ngôn ngữ, cấu trúc ẩn dụ ý niệm và mô hình tri nhận màu sắc trong tiếng Việt.
  • Phương pháp hỗ trợ: Thu thập và phân tích tư liệu ngôn ngữ từ văn bản, tác phẩm văn học, ca dao, báo chí và ngôn ngữ sinh hoạt đời thường; thống kê, phân loại định lượng ngữ liệu.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng văn hóa học và tri nhận luận để giải thích cơ chế tư duy của người Việt.

Nguồn tư liệu và số liệu thống kê:

  • Tác giả thu thập và khảo sát 27 từ đơn tiết định danh màu; nhóm từ đơn tiết chỉ hoạt động với màu sắc; 396 đơn vị từ ngữ đa tiết biểu đạt màu và dạng thể liên quan.
  • 396 từ ngữ đa tiết được phân loại thành 5 nhóm:
    1. Nhóm "Yếu tố chỉ màu + sắc độ": 139 đơn vị (đen bóng, đỏ au...).
    2. Nhóm "Từ chỉ màu + vật đại diện màu": 74 đơn vị (xanh rêu, đỏ bồ quân...).
    3. Nhóm "Từ chỉ màu + yếu tố láy": 44 đơn vị (hồng hồng, hồng hào, đen đen...).
    4. Nhóm "Từ chỉ màu + từ chỉ màu": 29 đơn vị (cam hồng, đỏ tía, đỏ nâu...).
    5. Nhóm "Từ chỉ phạm trù + vật đại diện màu": 110 đơn vị (màu hoa bưởi, màu da bò...).
  • Luận án loại trừ nhóm (3) và nhóm (5) khỏi vai trò miền nguồn trong mô hình tri nhận vì các nhóm này không có miền đích khái quát, trừu tượng hơn so với miền nguồn.
  • Tổng số biểu thức ẩn dụ ý niệm màu sắc được xác định và xử lý là 1040 biểu thức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu màu sắc và ẩn dụ ý niệm màu sắc ở cả phạm vi quốc tế và Việt Nam. Tác giả tổng kết các trường phái tiếp cận từ thực nghiệm nhân học, tâm lý học thần kinh đến ngôn ngữ học văn hóa và ngôn ngữ học tri nhận. Chương này xác lập khung lý thuyết với các khái niệm công cụ của ngữ nghĩa học tri nhận (nghiệm thân, điển dạng, không gian tinh thần, ánh xạ nguồn - đích), định nghĩa khái niệm ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt và xác định các thuộc tính của màu sắc đóng vai trò miền nguồn.

Chương 2. Mô hình cấu trúc ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt

Chương 2 phân tích sự chọn lọc thuộc tính điển dạng của màu sắc và thiết lập các ánh xạ có tính hệ thống từ miền nguồn màu sắc sang các miền đích tri nhận. Dựa trên 1040 biểu thức ẩn dụ, tác giả thống kê tỷ lệ phân bố theo các thuộc tính của ý niệm nguồn:

Ý niệm miền nguồn Số lượng biểu thức Tỉ lệ (%)
Sắc độ 126 12,1%
Độ sáng 735 70,7%
Tính nhiệt 41 3,9%
Giá trị tri nhận của màu sắc 58 5,6%
Hoạt động của con người với màu sắc 80 7,7%
Tổng cộng 1040 100%

Từ phân tích cơ chế ánh xạ, chương 2 xây dựng mô hình tri nhận tổng loại của ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt qua bảng cấu trúc:

Miền ý niệm nguồn Miền ý niệm đích Các phân nhánh cụ thể của miền đích
MÀU SẮC CON NGƯỜI - Con người tâm lý, tình cảm, tinh thần
- Con người xã hội
- Con người sinh học
- Con người tâm linh
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI - Khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực kinh tế
- Khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực giáo dục
- Khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực chính trị
- Khái niệm trừu tượng thuộc đời sống tinh thần xã hội
HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN - Thời gian
- Sự vật

Chương này cũng xác lập các ánh xạ thành phần: ánh xạ sắc độ biểu thị tính chất tích cực/tiêu cực; ánh xạ độ sáng biểu thị sự may mắn, trở ngại, phát triển hoặc suy giảm; ánh xạ tính nhiệt biểu thị mức độ mãnh liệt của trạng thái; và ánh xạ hoạt động với màu sắc biểu thị sự biến đổi, tác động xã hội.

Chương 3. Ẩn dụ ý niệm màu sắc về con người trong tiếng Việt

Chương 3 đi sâu phân tích mô hình tri nhận CON NGƯỜI LÀ MÀU SẮC qua 4 miền đích nhánh:

  1. Con người tâm lý, tình cảm, tinh thần:
  • Ẩn dụ cảm xúc CẢM XÚC LÀ MÀU SẮC: Chiếu xạ sắc độ sang chiều sâu cảm xúc, độ sáng sang tính chất tích cực/tiêu cực, tính nhiệt sang độ mãnh liệt, hoạt động với màu sắc sang hoạt động biến đổi cảm xúc. Các ẩn dụ thứ cấp gồm:
    • VUI LÀ MÀU ĐỎ (thuộc tính dương tính, độ sáng cao).
    • HI VỌNG LÀ MÀU XANH (màu của tự nhiên, sự sinh sôi).
    • BUỒN LÀ MÀU XANH (sắc độ xanh buốt, xanh xao; chuyển từ ẩn dụ sống sang ẩn dụ chết).
    • BUỒN LÀ MÀU ĐEN (tính chất sầu đen, tối tăm).
    • TỨC GIẬN LÀ MÀU ĐỎ; SỢ LÀ MÀU XÁM.
  • Ẩn dụ tình cảm TÌNH CẢM CON NGƯỜI LÀ MÀU SẮC: TÌNH YÊU TRONG SÁNG LÀ MÀU TRẮNG, TÌNH YÊU HI VỌNG LÀ MÀU XANH, TÌNH YÊU BUỒN LÀ MÀU ĐEN, tình yêu mãnh liệt nồng cháy là màu đỏ, chung thủy là màu tím.
  • Ẩn dụ phẩm chất, tinh thần: TÂM HỒN ĐẸP LÀ MÀU XANH, TÂM HỒN TRONG SÁNG LÀ MÀU TRẮNG, TÂM HỒN XẤU XA LÀ MÀU ĐEN; KHÁT VỌNG LÀ MÀU XANH (tính nhiệt thấp, bền bỉ); Ý CHÍ LÀ MÀU ĐỎ (tính nhiệt cao, sự quyết liệt).
  1. Con người xã hội:
  • HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI LÀ MÀU SẮC: HOẠT ĐỘNG TÍCH CỰC LÀ MÀU HỒNG/XANH (tô xanh cuộc sống), HOẠT ĐỘNG TIÊU CỰC LÀ MÀU ĐEN (biến trắng thành đen).
  • SỰ TƯƠNG TÁC CỦA CON NGƯỜI LÀ MÀU SẮC: QUAN HỆ TIÊU CỰC LÀ MÀU ĐEN (quan hệ đen tối).
  • TƯ DUY LÀ MÀU SẮC: Dựa trên khả năng nhìn rõ sự vật theo độ sáng; TƯ DUY RÕ RÀNG LÀ MÀU TRẮNG (suy nghĩ trong sáng), TƯ DUY KHÔNG RÕ RÀNG LÀ MÀU ĐEN (tư duy đen tối).
  • CUỘC ĐỜI LÀ MÀU SẮC: CUỘC ĐỜI YÊN ẤM LÀ MÀU HỒNG, CUỘC ĐỜI TƯƠI ĐẸP LÀ MÀU XANH, CUỘC ĐỜI BI THƯƠNG LÀ MÀU ĐEN/XÁM, CUỘC ĐỜI THANH CAO LÀ MÀU TRẮNG.
  1. Con người sinh học:
  • ĐỜI SỐNG SINH HỌC CỦA CON NGƯỜI LÀ MÀU SẮC: Đặt trong sự phối hợp với mô hình CON NGƯỜI LÀ CÂY CỎ. Phản ánh chu trình sinh trưởng của thực vật: TUỔI TRẺ LÀ MÀU XANH/HỒNG (tóc xanh, tươi xanh), TUỔI GIÀ LÀ MÀU VÀNG (lá vàng trên cây).
  1. Con người tâm linh:
  • THỜI VẬN LÀ MÀU SẮC: THỜI VẬN TỐT LÀ MÀU ĐỎ (đỏ vận), THỜI VẬN XẤU LÀ MÀU ĐEN (số đen như quạ), thể hiện qua các biểu thức thành ngữ, tục ngữ phản ánh kinh nghiệm ứng xử của người Việt.

Chương 4. Ẩn dụ ý niệm về đời sống xã hội, hiện tượng tự nhiên trong tiếng Việt

Chương 4 khảo sát sự chuyển di ý niệm màu sắc sang các lĩnh vực xã hội và thế giới tự nhiên:

  1. Lĩnh vực Đời sống xã hội:
  • Kinh tế: TÌNH TRẠNG NỀN KINH TẾ LÀ MÀU SẮC (SỰ ỔN ĐỊNH LÀ MÀU XANH, SỰ TRÌ TRỆ LÀ MÀU XÁM); vận dụng tư duy định hướng TỐT LÀ LÊN, XẤU LÀ XUỐNG để thiết lập SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ LÀ MÀU XANH, SỰ SUY GIẢM CỦA KINH TẾ LÀ MÀU ĐEN, ĐỐI TƯỢNG XẤU LÀ MÀU ĐEN, ĐỐI TƯỢNG CHÍNH YẾU LÀ MÀU ĐỎ, ĐỐI TƯỢNG THỨ YẾU LÀ MÀU XANH.
  • Giáo dục: SỰ PHÁT TRIỂN/SUY GIẢM CỦA NỀN GIÁO DỤC LÀ MÀU SẮC; THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÀ MÀU SẮC (THỰC TRẠNG TÍCH CỰC LÀ MÀU XANH / nét son trong giáo dục, THỰC TRẠNG TIÊU CỰC LÀ MÀU XÁM / nền giáo dục đen tối).
  • Chính trị - xã hội: BẢN CHẤT THẾ LỰC CHÍNH TRỊ LÀ MÀU SẮC (thế lực đen tối); HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI LÀ MÀU SẮC (tô hồng truyền thống, bôi đen lịch sử).
  • Đời sống tinh thần: SỰ TRƯỜNG TỒN CỦA NGHỆ THUẬT LÀ MÀU XANH.
  1. Lĩnh vực Hiện tượng tự nhiên:
  • THỜI GIAN LÀ MÀU SẮC:
    • ĐẶC TRƯNG CỦA THỜI GIAN LÀ MÀU SẮC: Sử dụng sắc độ và giá trị thẩm mỹ của màu để tri nhận các thời điểm (chiều xanh, chiều tím, đêm xanh).
    • SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỜI GIAN LÀ SỰ THAY ĐỔI MÀU SẮC: Kinh nghiệm nghiệm thân về sự biến đổi không gian được dùng để hiểu về thời gian (sắc đỏ rũa màu xanh, lá xanh nhuộm thành cây lá vàng).
  • SỰ VẬT LÀ MÀU SẮC: Ánh xạ giá trị sự vật thông qua màu sắc; GIÁ TRỊ CAO LÀ MÀU ĐỎ/VÀNG (dao vàng), GIÁ TRỊ THẤP LÀ MÀU ĐEN/THÂM (cà thâm).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống về ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt từ giác độ ngữ nghĩa học tri nhận.
  • Đóng góp vào việc thúc đẩy ứng dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Lakoff, Johnson, Kövecses) vào thực tiễn miêu tả ngữ liệu tiếng Việt.
  • Gợi mở hướng tiếp cận liên ngành nhằm phân tích mối quan hệ bộ ba giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa dân tộc.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân loại, thống kê và xử lý định lượng 1040 biểu thức ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt, làm rõ cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn màu sắc với ba miền đích lớn (con người, đời sống xã hội, hiện tượng tự nhiên).
  • Xác lập mô hình tri nhận tổng loại và các mô hình thứ cấp, chỉ ra vai trò chi phối của thuộc tính độ sáng (chiếm 70,7%) và sắc độ (chiếm 12,1%) trong cơ chế phóng chiếu ý niệm.
  • Cung cấp cơ sở tư liệu cho việc giảng dạy tiếng Việt, nghiên cứu biểu tượng màu sắc và giải mã ngữ nghĩa văn hóa trong giao tiếp của người Việt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Vận dụng kết quả nghiên cứu mô hình ẩn dụ ý niệm màu sắc vào hoạt động giảng dạy ngôn ngữ học, văn hóa học Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.
  • Ứng dụng mô hình tri nhận để giải mã các biểu thức ẩn dụ màu sắc trong tác phẩm văn học, nghệ thuật và truyền thông xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế và hướng mở rộng được tác giả nêu trong luận án:

  • Luận án khảo sát các mô hình ẩn dụ ý niệm màu sắc chủ yếu trên ngữ liệu nội bộ tiếng Việt, chưa thực hiện so sánh đối chiếu quy mô lớn với các hệ thống ngôn ngữ khác vốn có quy tắc phân loại màu sắc khác biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng nghiên cứu đối chiếu liên ngôn ngữ và đa văn hóa để xác định rõ nét hơn các yếu tố phổ quát và yếu tố đặc thù dân tộc trong ẩn dụ ý niệm màu sắc, góp phần hỗ trợ việc dịch thuật và giao tiếp đa văn hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh, Việt học và Văn hóa học: Cung cấp khung phương pháp phân tích ngữ nghĩa tri nhận và quy trình khảo sát miền nguồn - miền đích.
  • Giảng viên giảng dạy tiếng Việt và người biên soạn giáo trình: Hữu ích trong việc giải thích ngữ nghĩa các kết hợp từ chứa yếu tố màu sắc (ước mơ xanh, quan hệ đen tối, số đỏ, vận đen...) dựa trên cơ chế tri nhận thay vì phương pháp giải nghĩa từ vựng học truyền thống.
  • Người làm công tác dịch thuật và nghiên cứu giao tiếp liên văn hóa: Hỗ trợ nhận diện các ẩn dụ chết và ẩn dụ sống liên quan đến màu sắc trong tiếng Việt để chuyển dịch chính xác sang các ngôn ngữ khác.

Các phần đáng tham khảo:

  • Bảng phân loại 1040 biểu thức ẩn dụ theo 5 nhóm thuộc tính nguồn (Chương 2).
  • Bảng mô hình tri nhận tổng loại ẩn dụ ý niệm màu sắc (Chương 2).
  • Hệ thống phân tích chi tiết các mô hình ẩn dụ thứ cấp về cảm xúc, tư duy, thời vận và đời sống xã hội (Chương 3 và Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Trong 1040 biểu thức ẩn dụ ý niệm màu sắc được khảo sát, thuộc tính miền nguồn nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Thuộc tính độ sáng (luminance) chiếm tỷ lệ cao nhất với 735 biểu thức, tương đương 70,7%. Tiếp theo là sắc độ với 126 biểu thức (12,1%), hoạt động của con người với màu sắc với 80 biểu thức (7,7%), giá trị tri nhận của màu sắc với 58 biểu thức (5,6%), và tính nhiệt với 41 biểu thức (3,9%).

2. Vì sao nhóm từ ngữ như "màu hoa bưởi", "màu da bò" hoặc "hồng hồng", "đen đen" không được chọn làm miền nguồn trong luận án? Tác giả xác định nhóm từ "từ chỉ phạm trù + vật đại diện" (110 đơn vị) và nhóm "từ chỉ màu + yếu tố láy" (44 đơn vị) trong thực tiễn sử dụng tiếng Việt không tạo ra miền đích có tính chất khái quát hơn hoặc trừu tượng hơn so với miền nguồn, do đó không đáp ứng tiêu chí cấu trúc của mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm.

3. Mô hình ẩn dụ ý niệm màu sắc về đời sống sinh học của con người liên kết với mô hình ẩn dụ nào khác? Ẩn dụ màu sắc về đời sống sinh học (TUỔI TRẺ LÀ MÀU XANH/HỒNG, TUỔI GIÀ LÀ MÀU VÀNG) được đặt trong sự kết hợp chặt chẽ với mô hình tri nhận CON NGƯỜI LÀ CÂY CỎ, dựa trên trải nghiệm nghiệm thân về chu trình sinh trưởng và biến đổi màu sắc của lá cây (tóc xanh, tươi xanh, lá xanh nhuộm thành cây lá vàng).

4. Khái niệm thời gian được tri nhận qua màu sắc như thế nào trong tiếng Việt? Thời gian được tri nhận qua hai mô hình chính: (1) ĐẶC TRƯNG CỦA THỜI GIAN LÀ MÀU SẮC (gán sắc độ và giá trị thẩm mỹ của màu cho thời điểm cụ thể như chiều xanh, chiều tím, đêm xanh); (2) SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỜI GIAN LÀ SỰ THAY ĐỔI MÀU SẮC (tri nhận sự trôi chảy của thời gian thông qua sự biến đổi màu sắc của không gian thực vật như sắc đỏ rũa màu xanh).

5. Luận án chia miền đích CON NGƯỜI thành những phân nhánh cụ thể nào? Miền đích CON NGƯỜI được chia thành 4 phân nhánh: Con người tâm lý, tình cảm, tinh thần; Con người xã hội; Con người sinh học; và Con người tâm linh.

Kết luận

Luận án "Ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Thị Liên là công trình nghiên cứu hệ thống về phạm trù màu sắc dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Thông qua việc phân tích và xử lý định lượng 1040 biểu thức ẩn dụ, tác giả đã thiết lập mô hình tri nhận tổng loại và làm rõ cơ chế ánh xạ từ miền nguồn màu sắc sang ba miền đích: con người, đời sống xã hội và hiện tượng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và đặc trưng văn hóa của người Việt trong việc sử dụng màu sắc để ý niệm hóa thế giới. Công trình cung cấp cơ sở ngữ liệu và khung tham chiếu có giá trị học thuật cho nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận, văn hóa học và giảng dạy tiếng Việt.