Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Tổng quan về họ Cúc (Asteraceae) Họ Cúc (Asteraceae Durmort. 1822 hoặc Compositae Gisek.I792) là một trong những họ lớn nhất thuộc ngành Ngọc Lan - Magnoliophyta hay ngành thực vat hat kin - Angiospermae (Takhtajan, 1966), trén thé giới đã điều tra được khoảng 23.550 chixthuc vat thuộc họ này (Takhtajan, 1997), chúng phân bố rộng rãi từ vùng'vẹn biên cho đến các vùng núi cao tới hơn 3.000m so với mực nước biển; Wagenitz (1976) và Carlquist (1976) đã công bố các kết quả nghiên cứu về hình thái học của các tong trong ho Cuc vardi đến kết luận họ Cúc gồm có 2 phân họ: Cichorioideae và Asterôiđ&ae. Tuy nhiên sự sắp xếp các tông trong mỗi phân họ theo 2 tác giả trên lại có sử bất đồng.
Theo Wagneitz, phân họ Cichorioideae chứa tông Lactucèae, còï:phân họ Asteroideae bao gồm các tông còn lại. Nhưng Carlquist lại Êho rằng phân họ Cichorioideae bao gồm các tông Arctoteae, Vernoniede, €Cardueae, Mutisieae, Cichorleae hay (Lactuceae) và Eupatorieae; cồn-phân họ Asteroideae bao gồm những tông Astereae, Inuleae, Heliantheae (bao gồm Helenieae), Anthemideae, Senecioneae và Calenduleae (dẫn theo Bruce và Tod, 2001). Năm 2008, nhóm nghiên cứu của Rahman và các cộng sự đã xác định được 36 loài thuộc-29:chĩ của họ Cúc phân bố ở Rajshahi, Bangladesh (dẫn theo Nguyễn Thị Quý, 1999). Vinod và Vineet (2010) đã xác định được 85 loài cây dược liệu và hương liệu thuộc 54 chi của họ Cúc phân bố ở Uttarakhand, Ấn Độ (Vinod, 2010).
Những nghiên cứu về hệ thực vật Bắc Mỹ công bố năm 2006, đã thống kê được có 418 chi và 2413 loài thực vật họ Cúc (Flora of North America, 2003). Trong tập 20 — 21 của bộ sách Thực vật chí Trung Quốc, Zhu và cộng sự (2011) đã thống kê được ở Trung Quốc có 2.336 loài thực vật họ Cúc phân bố trong 15 tông và 248 chi. Công trình nghiên cứu phân loại họ Cúc đầu tiên ở Việt Nam là của tác giả người Pháp Gagnepain (1924), ông đã dựa vào các loại hoa trong cụm hoa hình đầu và đặc điểm của bộ nhị để phân chia họ Cúc ở Việt Nam thành 7 nhóm lớn gồm 78 chỉ. Trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm'Hoàng Hộ (2000) tập 3 đã mô tả được 335 loài họ Cúc thuộc 98 chi khác nhau (Phạm Hoàng Hộ,1999 — 2000).
Lê Kim Biên (2007) trong cuốn “Thực vật chí Việt Nam — Tập 7” đã mô tả được 374 loài thuộc 126 chi, 12 tông họ Cúc dựa trên hệ thống phân loại của Bremer (1994). Tác giả đã mô táchi tiết, vẽ hình và đưa ra khóa định loại chỉ tiết cho họ này. Đây là cuốn tài liệu chuyên khảo sâu dành cho những người nghiên cứu về họ Cúc. Ở Việt Nam, từ khoảng thể Kỷ XW đến đầu thế kỷ XVI, các loài Cúc làm cảnh đã được đưa vào trông ở nước ta với mục đích tạo cảnh quan, sau này cây Cúc được trồng như một“loại cây thương mại.
Năm 2005, Nguyễn Văn Kết và cộng sự đã (ến'hànl'khảo sát và nhận thấy trên địa bàn Đà Lạt có khoảng trên 72 giống:Cúc cắt €ành được nhập nội. Phùng Văn Phê và Nguyễn Trung Thành (2009) đã nghiên cứu trên địa ban rừng đặc dụng-ở:Yên Tủ, Quảng Ninh và xác định được có 9 loài dược liệu thuộc 7 chi của họ Cúc phân bố ở đây. Tại Thừa Thiên Huế, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2003) đã nghiên cứu và công bố danh lục hệ Nắm và thực vật tại VQG Bạch Mã thuộc tỉnh Thừa Thiên Hué, theo đó có 28 loài thực vật họ Cúc được xác định phân bố trong 22 chi, trong đó có I5 loài cây thuốc. Theo Lại Hữu Hoàn và Nguyễn Văn Tám - Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ (2011) đã xác định được 28 loài thực vật họ Cúc phân bồ trên địa bàn VQG Bạch Mã, Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền và Vùng hành lang xanh thuộc dự án Hành Lang xanh.
Nghiên cứu về thành phần loài và dạng sống Nghiên cứu về thành phân loài Mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Vì vậy, việcñghiên cữu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọngfong phẩn loại loại hình thảm thực vật (Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009) Nghiên cứu dạng sống Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về Hình thái, cấu trúc cơ thê thực vật thích nghi với điều kiện sống. Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa hợc quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Patsoxki (1915) chia thảmm.thực Vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời:kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt dat trong thời kỳ bất lợï£hực vật tàn lụi vào thời ky bat loi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phất triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.
Cho đến nay, kHi phân tích ban chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các'vùñg ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống cua Raunkiaer (1934) dé sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó. Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghỉ của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm. Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bắt lợi trong năm. Áp dụng thang phân loại của Raunkiaer (1934).
Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống cơ bản: 1. Cây có chồi trên đất (Phanerophytes) - Ph 2. Cây chồi sát đất (Chamaephytes) - Ch 3. Cây chồi nửa ân (Hemicryptophytes) - Hm 4.
Cây chồi an (Crytophytes) - Cr 5. Cây một nam (Therophytes) - Th Trong d6 cay chéi trén dat (Ph) duoc chia thanh 9 dang nho: 6. Cây đó cây chồi 30m (Megaphanerophytes) - Mg 7. Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Mesophdnerophytes) - Me 8.
Cây nhỏ có chỗi trên đất 2 - 8m (Microphanerophytes) - Mi 9. Cây có chồi trên đất lùn đưới 2m (Nanophänrophytes) - Na 10. Cây có chồi trên đất leo cuôf'(flanas. Cây có chồi trên đất sống nhờ và sông bám (Epiphytes phanerophytes) - Ep 12.
Cây có chồi trên đất thân thảo (Herb phanerophytes) - Hp 13. Cây có chéi trén dat mong nude (Succelent phanerophytes) - Suc 14. Cây có chồi trên đất ký-sinh va ban ky sinh (Parasites phanerophytes) -Pp 15. Để thuận tiện trong Việc so sánh phô dạng sống giữa các hệ thực vật với nhau, Raunkiaer (1954) đã tính toán với hơn 1.000 cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và đưaTa phô dạng sống có tiêu chuẩn sau: SB (Spectrum biology) = 46 Ph + 9Ch + 26 He + 8 Cr+ 15 Th Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trong, đảm bảo tính khoa hoc, dé áp dụng.
Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên và liên quan đến những đặc điểm này có hình dạng bên ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản. Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu. Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu-cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loàï thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia. Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tùy tác giả.
Đa dạng cấu trúc và chức năng của ecdysteroid 6 thực vật Cho đến nay, đã xác định được hơn-503 hợp chất có chứa ECs. Trong nhóm các hợp chất ECs thì hợp chất 20E được nghiên cứu và ứng dụng khá phô biến. ECs ở thực vật là.nhữ8ø hợp chất polyhydroxylate tự nhiên có bốn vòng skeleton được bao quanh thường là 27 hoặc 28-29 nguyén tt cacbon. ECs được xác định có mặt ở khoảng 6% các loài thực vật và được gọi là phytoecdysteroids (PEs); PEs lầ một nhóm các hợp chất hóa học được thực vật tổng hợp để chống li sự `tắn công của côn trùng.
PEs được xếp vào loại triterpenoids, nhóm các-hợp chất bao gồm saponin triterpene, phytosterol, và phytoecdysteroids. Sự tổng hợp PEs từ axit mevalonic trong quá trình chuyền hóa mevalonate của tế bào thực vật sử dụng acetyl-CoA là một tiền chất (Dinan, 2001). Cấu trúc hóa học của 20 — HydfoXyecdysone (20E) Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết ECscó thể tham gia hơn 1.000 cơ chế hoạt động sinh lý của cơ thể sinh vật xảy Ta trong tự nhiên. Nhiều thực vật có khả năng sản sinh PEs khi bị tấn công của động vật hoặc khi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện môi trường bắt lợi (Lafont & Difan, 2003; Lafont, 2017).
Các PEs ở thực vật lần đầu tiên được tìm thấy trong lá cây Podocarpus nakai bởi nhà nghiên cứu người Nhật trong“chuyến khảo sát về thực vật dân tộc ở Đài Loan vào năm 1966 (Ramazanoý, 2005).Người dân địa phương sử dụng lá cây này như là một loại thuốc chữ&tkhối-u. Những nghiên cứu trước kia chỉ phát hiện ecdysteroids chủ yếu ở dưỡng“%ï và cây hạt trần, theo công bố năm 2003 những kết quả nghiên cứu đã chỉ-ra rằng PEs cũng rất phô biến ở các loài thực vật có hoa (Filippova;-2003): Một trong những nghiên cứu quy mô lớn đầu tiên về sang lọc hệ thực. vật nhằm phát hiện PEs được thực hiện bởi các nhà khoa học Nhật Bản,'Baø gồm 1056 loài thuộc 186 họ, 738 chi đã được phân tích và chỉ có 54 loài (khoảng 5,1% tổng số loài) phát hiện thấy hoạt tính của PEs. Các nhà khoa học Anh đã chọn ngẫu nhiên 2200 loài và tỷ lệ phát hiện PEs là 6% (Lafont, 1997).
Trong cây Lậu lô (Leuzea carthamoi), có nhiều dạng PEs đã được nghiên cứu và tách chiết làm sản phẩm thương mại, hơn 20 loại PEs đã tách chiết được từ loài này (Budesinsky, 2008). 10 Mặc dù các hợp chất PEs ở thực vật khá đa dạng, nhưng cho đến nay thì chức năng chính xác của PEs trong chu trình sống của thực vật vẫn chưa được hiêu rõ.