CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số công trình nghiên cứu về thực vật lớp Hai lá mầm trên thế giới. Ngay từ thủa khai sinh, con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sống. Trong tiến trình lịch sử ấy, thực vật đóng vai trò rất quan trọng, đó là cơm ăn, là áo mặc, là những ngôi nhà che mưa nắng hay những cung điện bằng gỗ nguy nga tráng lệ.
Ngày nay, con người tìm đến với các thảo dược nhằm hỗ trợ sức sống, kéo dài tuổi thọ, tăng vẻ đẹp bản thân và ngay cả đến các vật dụng trong gia đình, trường học hay công sở… cũng chủ yếu là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ những nguyên liệu cỏ cây hoa lá. Không những thế, thực vật còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tồn vong của Trái Đất. Từ thế kỉ XV-XVI, sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật kéo theo sự phát triển của thực vật học. Thời kì này xảy ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của thực vật học đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) ở thế kỷ XVI, thành lập vườn bách thảo (thế kỷ XV-XVI) và biên soạn cuốn sách “Bách khoa toàn thư về thực vật”.
Từ đây xuất hiện các công trình ngiên cứu: Andrea Caesalpino (1519-1603), ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên và được đánh giá cao; John Ray (1686) mô tả được gần 18000 loài thực vật trong cuốn “Lịch sử thực vật”. Tiếp sau đó, Linnée (1873) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật. Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng Latinh gồm 2 từ ghép mà ngày ta chúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài. [12] Thời kỳ này bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, các hệ thống phân loại của gia đình Jussieu đã sắp xếp thực vật theo trình tự từ thấp đến cao, xếp chung vào các họ và giữa các họ đều mang những dạng chuyển tiếp, phản ánh được mối quan hệ giữa các nhóm thực vật.
De Candolle (1813) chia thành thực vật thành thực vật có hoa, ẩn hoa có mạch và không mạch,… Điều dáng chú ý là các hệ thống phân loại trong thời kỳ này vẫn còn mang quan niệm của Linnée cho rằng loài là bất biến. Theo hệ thống này, thực vật có hoa được chia thành hai lớp rộng lớn là Magnoliopsida (thực vật Hai lá mầm) và Liliopsida (thực vật một lá mầm). Trong các lớp này, các bộ có liên quan được gộp cùng nhau thành các phân lớp. Theo hệ thống này, các loài thực vật Hai lá mầm bao gồm 321 họ thuộc 64 bộ trong 11 phân lớp.
[24] Theo xu hướng hiện tại thì nhiều nhà thực vật học đã và đang chấp nhận hệ thống phân loại của Angiosperm Phylogeny Group cho các bộ và họ thực vật có hoa, gọi là hệ thống APG I với phiên bản chính thức có vào năm 1998, APG II vào 2003 và sau đó là APG III năm 2009. Hệ thống APG II công nhận 45 bộ, nhiều hơn so với hệ thống APG I là 5 bộ. Các bộ mới là Austrobaileyales, Canellales, Gunnerales, Celastrales, Crossosomatales, tất cả các họ trên đều là các họ trước đó không được đặt vào bộ nào, mặc dù được chứa trong các nhánh trên bộ trong hệ thống APG. APG II công nhận 457 họ, ít hơn 5 họ so với hệ thống APG I.
Tổng cộng vẫn có 39 họ của APG II không đặt trong bộ nào, nhưng trong đó 36 họ đã từng đặt trong nhánh trên bộ trong phạm vi thực vật hạt kín. 55 họ được biết đến như là "các họ trong ngoặc đơn", nghĩa là chúng là các họ tùy chọn, là các phần được tách ra từ các họ có định nghĩa rộng (sensu lato), khi hiểu các họ đó theo nghĩa hẹp (sensu stricto). Hệ thống AGP III công nhận toàn bộ 45 bộ của hệ thống APG II, cũng như 14 bộ mới. Bộ Ceratophyllales đã từng bị đánh dấu sai lầm như là một bộ mới, nhưng nó đã được công nhận trong cả hai phân loại trước đây của APG là hệ thống APG và hệ thống APG II.
Các bộ mới được công nhận là: Amborellales, Nymphaeales, Chloranthales, Petrosaviales, Trochodendrales, Buxales, Vitales, Zygophyllales, Picramniales, Huerteales, Berberidopsidales, Escalloniales, Bruniales và Paracryphiales. [31] Ngoài ra cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hệ thống phân loại thực vật học như Takhtazan và Armen Leonovich đã nghiên cứu về hệ thống phân loại và các lớp thực vật có hoa trong đó có các bộ, họ thuộc lớp Hai lá mầm tại Columbia University Press.Tuy nhiên trong các công trình này, tác giả mới chỉ ra số lượng và vị trí, đặc điểm của các bộ, họ thuộc lớp Hai lá mầm mà chưa có bản mô tả hay khóa phân loại đến loài. Thorne (1997) và James L. Reveal (2007) đã nghiên cứu để bổng sung các loài cây thuộc lớp Magnoliopsida.
[30] 4 Khóa luận tốt nghiệp 2017 Tạ Thị Nhương 1. Một số công trình nghiên cứu về thực vật lớp Hai lá mầm ở Việt Nam và thị trấn Tam Đảo. Ở Việt Nam, thực vật nói chung và thực vật Hai lá mầm nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Những công trình nghiên cứu đầu tiên thường là của các tác giả người nước ngoài công bố về hệ thực vật Việt Nam.
Về sau nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về thực vật Hai lá mầm. Một số công trình tiêu biểu như: Năm 1978, Võ Văn Chi xuất bản cuốn sách “Phân loại thực vật bậc cao” [6] giúp các nhà khoa học phân chia các loài thực vật đơn giản hơn. Trong cuốn sách, ông đi theo quan điểm thực vật Hai lá mầm được chia vào 7 phân lớp là: - Phân lớp Ngọc lan (Magnoliidae) - Phân lớp Mao lương (Ranunculidae) - Phân lớp Sau Sau (Hamamelididae) - Phân lớp Cẩm chướng (Caryophyllidae) - Phân lớp Sổ (Dilleniidae) - Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) - Phân lớp Cúc (Asteridae) Năm 1991 – 2000, Phạm Hoàng Hộ xuất bản cuốn « Cây cỏ Việt Nam ». Tác giả đã thống kê có mô tả kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam.
[11] Năm 2003, Hoàng Thị Sản trong cuốn giáo trình ‘Phân loại học thực vật’ đã đi theo hệ thống của Takhtazan (1980) có sửa đổi và đưa ra quan điểm thực vật lớp Hai lá mầm có 7 phân lớp. Về cơ bản, các phân lớp giống như quan điểm của Võ Văn Chi (1978). [17] Những năm sau này, hệ thống phân loại học thực vật dần được hoàn thiện. Năm 2003, Nguyễn Tiến Bân chủ biên xuất bản cuốn sách « Danh lục các loài thực vật Việt Nam » thống kê các loài thực vật được ghi nhận ở Việt Nam, đỉnh điểm của 5 Khóa luận tốt nghiệp 2017 Tạ Thị Nhương thời điểm đó [5].
Trong đó các loài thực vật Hai lá mầm được đưa ra tương đối đầy đủ về các thông tin như danh pháp, thông tin, giá trị sử dụng. Cho đến bây giờ, đây vẫn là một cuốn sách cần cho tất cả mọi người khi nghiên cứu về danh sách thực vật học. Pócs T (1965) đã thống kê được ở miền Bắc có 5. Phan Kế Lộc (1969) đã thống kê và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ.
Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài. Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật.
Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10. Trần Đình Lý và cộng sự (1993) thống kê được 1900 cây có ích ở Việt Nam. Võ Văn Chi (2012) xuất bản cuốn sách « Từ điển cây thuốc Việt Nam ». Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) xuất bản cuốn sách « Cây cỏ có ích ở Việt Nam ».
Đỗ Tất Lợi (2003) chỉ ra một số cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam trong cuốn « Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam ». Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thực vật bậc cao có mạch tại các VQG và các KBTTN Việt Nam. [22] Trong cuốn sách « Giáo trình Thực vật học » (2004), Nguyễn Bá đã đi theo quan điểm lớp thực vật Hai lá mầm là một lớp lớn : Lớp Ngọc lan – Magnoliopsida với 30 bộ. Đó là : Bộ Ngọc lan – Magnoliales, Bộ Long não- Laurales, Bộ Hồ tiêu – Piperales, Bộ Súng – Nymphaeales, Bộ Hoàng liên – Ranunculales, Bộ Thuốc phiện – Papaverales, Bộ Sau sau – Hamamelidales, Bộ Gai – Urticales, Bộ Dẻ - Fagales, Bộ Cẩm chương – Caryopyllales, Bộ Rau răm – Polygonales, Bộ Chè – Theales, Bộ Bông – Malvales, Bộ Hoa tím – Violales, Bộ Liễu – Salicales, Bộ Màn màn – Capparales, Bộ Đỗ quyên – Ericales, Bộ Hoa hồng – Rosales, Bộ Đậu – Fabales, Bộ Sim – Myrtales, Bộ Thầu dầu – Euphorbiales, Bộ Táo ta – Rhamnales, Bộ Bồ hòn – Sapindales, Bộ Hoa tán – Apiales, Bộ Long đởm – Gentianales, Bộ Cà – Solanaceae, Bộ Hoa môi – Lamiales, Bộ Hoa mõm chó – Scrphulariaceae, Bộ Cà phê – Rubiales, Bộ Cúc – Asterales.
Như vậy, tác giả đã sắp xếp các loài đến bộ và chưa có sự sắp xếp các bộ vào phân lớp cao hơn. [2] 6 Khóa luận tốt nghiệp 2017 Tạ Thị Nhương Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Hoàng Thị Sản (2006), Lê Khả Kế (2011), Trần Ninh và Trần Văn Thụy (2012), Vũ Xuân Phương (2015)… nghiên cứu về các loài thực vật Hai lá mầm để hoàn thiện hơn hệ thống học thực vật theo trình tự phân lớp – bộ - họ - chi – loài. [22] Theo Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Thị Sy (2004), trong cuốn « Hệ thống học thực vật » [19], hệ thống phân loại thực vật lớp thực vật Hai lá mầm dần hoàn thiện và hoàn chỉnh với khoảng 199.