Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những nghiên cứu về loài Thiên lý hương ở trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới SenHua Lu và cộng sự (2012) khi nghiên cứu thành phần hóa học của dầu dễ bay hơi ở các bộ phận khác nhau của loài Thiên lý hương (Embelia parviflora Wall.) bằng cách chưng cất hơi nước và sau đó được phân tích bằng phép đo sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Kết quả chỉ ra rằng, 11 hợp chất đã được xác định từ rễ, chiếm 77,67% tổng lượng dầu dễ bay hơi; 36 hợp chất đã được xác định từ thân, chiếm 92,88% tổng lượng dầu dễ bay hơi; 74 hợp chất được xác định từ lá, chiếm 85,11% tổng lượng dầu dễ bay hơi [32].
Năm 2020, Wenjun Liu và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng bổ máu và khám phá cơ chế của nó của cao chiết được chiết xuất từ các dung môi khác nhau từ loài Embelia parviflora và thử nghiệm trên chuột thiếu máu. Kết quả chỉ ra rằng, các thành phần chiết xuất bằng ethyl acetate, n-butanol và nước từ loài Thiên lý hương có thể cải thiện chức năng miễn dịch và biểu hiện các yếu tố tạo máu ở chuột thiếu máu và cho thấy một số tác dụng bổ máu nhất định [40]. Shi-Yong Wang đã chỉ ra rằng, các loài thực vật thuộc chi Embelia như E. laeta là những loại thuốc được sử dụng phổ biến và tác dụng chữa bệnh của chúng đã được xác nhận trong y học của dân tộc Choang Trung Quốc.
Những nghiên cứu hiện nay cho thấy, các loài thực vật thuộc chi Embelia có thành phần hóa học và tác dụng dược lý tương tự nhau. Do đó các loài thực vật này đều có giá trị sử dụng và tiềm năng phát triển trong tương lai [38]. Lee HwaJin và Ryu JaeHa đã chỉ ra rằng, các chất hòa tan trong hexan từ rễ của loài Thiên lý hương có khả năng chống viêm và các bệnh truyền nhiễm liên quan đến nhóm Leukotriene B4 (LTB4 - nhóm các chất trung gian gây viêm ở người) ở liều lượng trung bình là 25 µg/ml. Các chất AA-4 và ES-4 được phân tách bằng sắc ký cột có mức độ ức chế liên kết LTB4 với bạch cầu trung tính ở người lần lượt là 78 và 62% ở liều 30 µg/ml.
3 Chen X và cộng sự (1992) khi điều tra khảo sát chợ thảo dược truyền thống tại huyện Jingx, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây đã thống kê được 380 loài thực vật làm thuốc, thuộc 129 họ và 322 chi. Các loài làm thuốc phổ biến là Embelia parviflora, Malus doumeri, Panax notoginseng, Polygala fallax,. Nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên dược liệu của đồng bào dân tộc Choang. Năm 2019, Jean Marc Dubost và cộng sự đã nghiên cứu tri thức sử dụng thảo dược của đồng bào dân tộc Mông ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 333 loài thực vật đã được sử dụng làm thuốc chữa các bệnh về đường tiêu hóa, các bệnh phụ khoa và bệnh lây truyền qua đường tình dục, các bệnh về da, các bệnh thận và bàng quang, chấn thương và làm thuốc bổ. Việc lưu truyền kiến thức sử dụng cây thuốc chủ yếu là truyền miệng, theo hệ thống mẫu hệ và được lưu giữ nghiêm ngặt trong dòng họ. Trong nghiên cứu này, loài Thiên lý hương (Embelia parviflora) cùng với loài E. sessiliflora được đồng bào các dân tộc Mông ở Lào sử dụng để chữa các bệnh liên quan đến rối loạn tiêu hóa.
Nhận xét chung: Loài Thiên lý hương chủ yếu được nghiên cứu bởi các tác giả người Trung Quốc, nơi loài này đã được sử dụng phổ biến trong tri thức bản địa của các dân tộc. Các nghiên cứu đã chỉ ra các tác dụng dược lý và tác dụng làm thuốc, là cơ sở khoa học tin cậy cho các nghiên cứu sâu hơn về loài này trong tương lai. Ở Việt Nam Những nghiên cứu về loài Thiên lý hương ở Việt Nam hầu như không có, chỉ có một số công trình giới thiệu, mô tả đặc điểm hình thái, công dụng của loài này trong một số tài liệu: Sách đỏ Việt Nam (2007) đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái ngoài, tên Việt Nam khác, tên đồng nghĩa (syonym), sinh học và sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng, tình trạng, phân hạng và biện pháp bảo vệ loài này ở Việt Nam. Đây là tài liệu giới thiệu chi tiết nhất về loài thực vật này ở Việt Nam [18].
4 Phạm Hoàng Hộ (1999) trong “Cây cỏ Việt Nam, tập 1” giới thiệu vắn tắt các đặc điểm hình thái quan trọng, phân bố, mùa hoa quả kèm theo hình vẽ để nhận dạng loài này ở Việt Nam. Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2013) nghiên cứu cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Sán Chí tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã chỉ ra rằng. Thiên lý hương (Embelia parviflora Wall.) là loài thực vật thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), lá nhỏ, hoa màu trắng mọc ở nách lá. Loài này được người Sán Chí gọi là Quế dây vì cây có mùi thơm rất đặc trưng giống mùi cây Quế.
Theo kinh nghiệm của người Sán Chí, thân và rễ cây Thiên lý hương được dùng để ngâm rượu xoa bóp giúp giảm đau mỏi xương khớp [11]. Năm 2015, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự đã điều tra nghiên cứu cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả chỉ ra rằng, có 115 loài cây thuốc thuộc 103 chi, 63 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch được người Tày ở xã Văn An sử dụng làm thuốc. Trong số đó, loài Embelia parviflora Wall.
(Thiên lý hương - Co nam coi) được dùng chữa bệnh dập nát, gãy xương, và dùng làm thuốc bổ. Lưu Đàm Ngọc Anh và cộng sự khi nghiên cứu tri thức bản địa các loài thực vật tạo màu của cộng đồng các dân tộc ở vùng núi phía bắc Việt Nam đã kết luận rằng, cộng đồng các dân tộc có kiến thức phong phú trong việc sử dụng các loại cây để nhuộm thực phẩm và tạo màu. Các tác giả đã thống kê được 43 loài thuộc 24 họ được đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng để tạo màu. Trong đó loài Thiên lý hương (tên gọi phổ biến khác là Tà là vẹt) được các dân tộc sử dụng bộ phận thân cây để ngâm rượu uống làm thuốc bổ, vị thuốc khi ngâm rượu có màu đỏ.
Vũ Thị Thu Hiền, Lại Thị Thanh (2020) khi nghiên cứu về đa dạng của cây thuốc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa bước đầu đã ghi nhận 5 được 187 loài, thuộc 155 chi, 70 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch (Magnoliophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Lycopodiophyta). Đồng thời cũng xác định được 13 loài cây thuốc quý cần được bảo vệ, trong đó loài Thiên lý hương được xếp ở mức VU (sẽ nguy cấp) theo sách đỏ Việt Nam 2007. Năm 2023, Nguyễn Thị Lương cùng cộng sự sử dụng phương pháp điều tra thực vật dân tộc học tìm hiểu các loài thực vật có khả năng sử dụng làm màu thực phẩm của 11 dân tộc từ bắc vào nam. Kết quả đã thống kê được 110 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 54 họ.
Trong đó, loài Thiên lý hương sử dụng phần gỗ (rễ và thân) để nhuộm xôi cho màu đỏ. Những nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo hiển vi của các loài cây thuốc ở Việt Nam Lê Thị Mi Chi và cộng sự (2016) đã khảo sát sơ bộ thành phần hóa học, đặc điểm vi phẫu và hình thái của cây Lá đắng (Vernonia amygdalina Delile) thuộc họ Cúc (Asteraceae) thu thập tại thành phố Đà Nẵng. Loài này có nguồn gốc từ Châu Phi và được nhập trồng ở Việt Nam. Cây có tác dụng trị đái tháo đường, chống oxy hóa và điều hòa miễn dịch, trị xơ vữa động mạch, chống béo phì, kháng viêm, chống ung thư, trị sốt rét, chống dị ứng.
Kết quả nghiên cứu đã bổ sung đặc điểm hình thái ngoài; đặc điểm hiển vi rễ, thân và lá; tiêu chuẩn hóa bột dược liệu và khảo sát sơ bộ thành phần hóa học. Kết quả này là cơ sở cho việc tiêu chuẩn hóa dược liệu về loài thực vật này ở Việt Nam [4]. Dịch Thị Phương Anh và cộng sự (2017) đã mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hiển vi (rễ, thân, lá) của loài Màn màn tím (Cleome rutidosperma DC.) thu thập tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cấu tạo giải phẫu (rễ, thân, lá) đã chỉ ra rằng, cấu tạo loài này mang đặc điểm cấu tạo chung của cây 2 lá mầm.
Cấu tạo rễ đặc trưng bởi cấu tạo thứ cấp. Cấu tạo của thân có mô mềm ruột rất phát triển, mô dày xốp phân bố chủ yếu ở các góc của thân. Cấu tạo phiến lá phân biệt mô giậu và mô xốp, phần gân chính có 4-5 bó libe gỗ xen kẽ trong khối tế bào mô mềm [1]. 6 Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2018) đã mô tả chi tiết được đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) của cây Ba kích (Morinda officinalis) trồng tại vườn thực nghiệm của Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Kết quả nghiên cứu đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái hiển vi cơ quan sinh dưỡng từ ngoài vào trong, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sâu hơn về loài thực vật làm thuốc này. Lò Mai Thu (2021) khi nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu của loài Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) ở khu bảo tồn Copia (Sơn La) đã đưa ra một số kết luận rằng. Loài Anoectochilus setaceus có thân rễ dài từ 5 - 12 cm, đường kính thân rễ từ 2,5 - 3,5 mm. Thân khí sinh thường mọng nước, nhẵn, có lông bảo vệ, màu hồng nhạt hoặc xanh trắng.
Rễ có chiều dài thay đổi từ 1 - 9 cm. Kích thước của lá thay đổi, dài 3 - 5 cm, rộng 2 - 4 cm. Phiến lá hình trứng, mép nguyên, đầu lá tù, đuôi lá hình tim. Lá có màu nâu đỏ hoặc xanh thẫm ở mặt trên.
Trương Minh Nhựt và cộng sự (2022) đã xác định sơ bộ thành phần cấu tạo và tác dụng của loài Trà hoa vàng (Camellia flava) trồng tại Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái hiển vi. Cụ thể vi phẫu thân gần tròn, bao gồm bần, nhu bì, mô cứng, libe 1, libe 2, mạch gỗ 1, mạch gỗ 2, mô mềm gỗ 1, mô mềm gỗ 2, tia tủy, mô mềm tủy và tinh bột.