Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận Khái niệm môi trường Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005 môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Khái niêm hệ sinh thái “Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó”.
Theo độ lớn, hệ sinh thái có thể chia thành hệ sinh thái nhỏ (bể nuôi cá), hệ sinh thái vừa (một thảm rừng), hệ sinh thái lớn (đại dương). Tập hợp tất cả các hệ sinh thái trên bề mặt trái đất thành một hệ sinh thái khổng lồ sinh thái quyển (sinh quyển). Hệ sinh thái bao gồm hai thành phần: vô sinh (nước, không khí…) và sinh vật. Giữa hai thành phần luôn luôn có sự trao đổi chất, năng lượng và thông tin.
Sinh vật trong hệ sinh thái được chia làm ba loại: - Sinh vật sản xuất thông thường là tảo hoặc thực vật, có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ vật chất vô sinh dưới tác động của ánh sáng mặt trời. - Sinh vật tiêu thụ gồm các loài động vật ở nhiều bậc khác nhau. Bậc 1 là động vật ăn thực vật, bậc 2 là động vật ăn thịt,… n 6 - Sinh vật phân hủy gồm các vi khuẩn, nấm phân bố ở khắp mọi nơi, có chức năng chính là phân hủy các xác chết sinh vật, chuyển chúng thành các thành phần dinh dưỡng cho thực vật. Hệ sinh thái rừng (Forest Ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất)).
Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (E. Khái niệm đa dạng sinh học Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái (HST) mà chúng là thành viên. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học (ĐDSH). Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước Đa dạng sinh học (1992) được coi là “đầy đủ và toàn diện nhất” xét về mặt khái niệm.
Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của cơ thể sống có ở các nguồn trong HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)”. - Đa dạng di truyền được hiểu là sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau. - Đa dạng loài là sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau. - Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau.
Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực ngày 01/07/2006. - Luật Đất đai 2003 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003. - Nghị định 80/2003/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường. - Luật Đa dạng sinh học 2008 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
- Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Đa dạng sinh học. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 01/04/2005). - Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
- Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 sửa đổi danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm. - Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14/1/2008 về quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới Cuộc khủng hoảng các loài động, thực vật hoang dã còn tồi tệ hơn cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. Ðó là cảnh báo của Phó Giám đốc chương trình về các loài vật của Nhóm bảo tồn đa dạng n 8 sinh học thuộc Liên đoàn quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN) G.Cri-xtốp-phơ Vi khi ông ví von đây là thời điểm để thừa nhận rằng thiên nhiên là "công ty" lớn nhất thế giới đang đem lại lợi nhuận 100% cho con người.
Vậy mà thiên nhiên đang bị tàn phá nặng nề, để lại những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Ông kêu gọi các chính phủ nỗ lực, nếu không nói là nhiều hơn nữa, trong việc cứu lấy thiên nhiên như họ đã làm đối với các lĩnh vực kinh tế và tài chính. Các loài thực vật và động vật tạo nên sự kỳ diệu trong thế giới hoang dã đều có vai trò cụ thể, đóng góp thiết yếu cho cuộc sống con người như cung cấp lương thực, thuốc men, ô-xy, nước và cân bằng hệ sinh thái. Khí hậu thay đổi dẫn tới môi trường sống thay đổi và các loài động, thực vật cũng phải thay đổi chu kỳ sinh trưởng và các đặc điểm cơ thể hoặc thay đổi đường di cư để thích nghi với môi trường mới, làm mất đi sự đa dạng sinh học.
Theo một nghiên cứu mới đây về đa dạng sinh học quốc tế, các nhà khoa học cảnh báo, hơn một phần ba loài động vật trên thế giới có nguy cơ tuyệt chủng.677 loài nằm trong danh sách Ðỏ, một đánh giá có thẩm quyền nhất của các nước về các loài vật trên Trái đất có nguy cơ tuyệt chủng và được đưa ra dựa trên nghiên cứu của hàng nghìn nhà khoa học, hiện nay 17.291 loài đang bị đe dọa, trong đó 21% là động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 70% thực vật và 35% loài không xương sống. Các loài động vật lưỡng cư là nhóm sinh vật bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trên Trái đất với 1.285 loài nằm trong danh sách bị đe dọa. Trong số này, 39 loài tuyệt chủng, 484 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, 754 loài bị đe dọa và 657 loài không được bảo vệ. Các nhà khoa học cảnh báo, thế giới không những lo ngại số loài vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà còn bị đe dọa phá vỡ hoàn toàn hệ sinh thái.
Những con số trên báo động nguy cơ các loài sinh vật biến mất vĩnh viễn mặc dù các nhà lãnh đạo trên thế giới đều cam kết sẽ hành động để đảo ngược xu hướng đó. n 9 Công ước về đa dạng sinh học có hiệu lực năm 1993 đã đưa ra ba mục tiêu: Bảo tồn đa dạng sinh học; Sử dụng sự đa dạng sinh học một cách bền vững; Chia sẻ lợi ích của đa dạng sinh học một cách công bằng. Hiện nay, 168 quốc gia đã kí công ước trên, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2010 giảm đáng kể tỷ lệ mất đa dạng sinh học ở các cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, theo các nhà bảo tồn, loài người chưa tiến hành đủ các biện pháp để ngăn chặn những mối đe dọa chính.
Ô nhiễm môi trường, khí hậu thay đổi dẫn tới sự mất dần môi trường sống của các loài động vật, thực vật, một trong những nguyên nhân dẫn tới sự mất đa dạng sinh học. Giám đốc IUCN, bà S.Xmát cảnh báo, hiện có những bằng chứng khoa học về một cuộc khủng hoảng tuyệt chủng nghiêm trọng. Sự mất đa dạng sinh học xảy ra nghiêm trọng ở khu vực Trung và Nam Mỹ ; Đông, Tây và Trung Phi, nhất là ở Ma-đa-ga-xca; Nam và Đông-Nam Á. Mất đa dạng sinh học là một trong những cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất thế giới khi số các loài sinh vật giảm xuống mức thấp.
Các nước Châu Phi cảnh báo rằng, hệ sinh thái của các châu lục này dễ tổn thương nhất thế giới trước những biến động của thời tiết. Theo các nhà phân tích, trên thế giới đã không đạt được mục tiêu giảm sự mất đa dạng sinh học vào năm 2010. Vì vậy đã đến lúc chính phủ các nước phải hành động để cứu các loài động vật, thực vật và đưa ra vấn đề này trở thành trọng tâm của các chương trình nghị sự trong thời gian tới. Các tổ chức quốc tế và nhiều nước kêu gọi đưa vấn đề hậu quả nhân đạo vào nội dung các cuộc thương lượng chống biến đổi khí hậu.
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời IUCN, UNEP, WWF…để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới. Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu trải dài trên 15 vĩ độ từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và tính đa dạng sinh học cao.
Theo báo cáo tại hội nghị khoa học về đa dạng sinh học do Tổng cục môi trường tổ chức tháng 11/2010 [4]. Trên lãnh thổ Việt Nam, ở các hệ sinh thái trên cạn, đã thống kê và xác định được trên 13.200 loài thực vật, hơn 10.000 loài động vật. Trong các vùng đất ngập nước (ĐNN) nội địa, đã xác định được trên 3.000 loài thuỷ sinh vật. Môi trường biển với 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù, đặc trưng cho biển nhiệt đới và là môi trường sống của trên 11.000 loài sinh vật biển.