Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng" được tác giả Đỗ Thị Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Tuyết tại Trường Đại học Luật Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự (mã số 938.03), bảo vệ năm 2021.
Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng hợp đồng là phương tiện pháp lý phản ánh sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự dựa trên sự tự do, tự nguyện và hiệu lực bắt buộc (pacta sunt servanda). Dù vậy, nguyên tắc hiệu lực hợp đồng không phải là một nguyên tắc mang tính tuyệt đối. Khi quan hệ hợp đồng ngày càng trở nên phức tạp, các xung đột và tranh chấp có thể phát sinh ngay từ giai đoạn thương lượng, đàm phán (tiền hợp đồng). Điều này đòi hỏi nguyên tắc trung thực, thiện chí phải mở rộng phạm vi điều chỉnh, chi phối hành vi của các chủ thể ngay từ trước khi hợp đồng được giao kết. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do, pháp luật hợp đồng đòi hỏi sự dung hòa giữa việc tôn trọng quyền tự do giao kết và yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong đàm phán.
Về khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra rằng mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc trung thực, thiện chí tại Điều 3 và quy định về nghĩa vụ thông tin trong giao kết hợp đồng tại Điều 387, hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam vẫn chưa có các quy phạm đầy đủ, minh bạch điều chỉnh toàn diện nghĩa vụ tiền hợp đồng cũng như hậu quả pháp lý tương ứng. Sự thiếu hụt này tạo nên khoảng trống lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với ba vấn đề cốt lõi:
- Việc xác định tính bắt buộc của xử sự thiện chí trong quá trình đàm phán và thời điểm phát sinh nghĩa vụ này;
- Bản chất pháp lý cùng hiệu lực ràng buộc của các thỏa thuận sơ bộ, biên bản ghi nhớ;
- Căn cứ yêu cầu bồi hoàn các khoản chi phí mà một bên đã bỏ ra khi bắt đầu tiến hành các công việc chuẩn bị dựa trên niềm tin hợp lý rằng hợp đồng sẽ được xác lập.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng cùng hậu quả pháp lý do vi phạm tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tháo gỡ các bất cập thực tiễn. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ: làm rõ cơ sở lý luận trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế (Anh, Pháp, Đức...); phân tích thực trạng pháp luật trong BLDS 2015 và các văn bản chuyên ngành; đánh giá thực tiễn thực hiện và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
| STT |
Câu hỏi nghiên cứu |
Giả thuyết nghiên cứu |
| 1 |
Nghĩa vụ của các bên trước và trong đàm phán hợp đồng (nghĩa vụ tiền hợp đồng) là những nghĩa vụ gì? |
Khi tham gia trước và trong đàm phán hợp đồng, các chủ thể có những quyền dân sự nhất định và phải thực hiện những hành vi tương ứng. Nghĩa vụ tiền hợp đồng là xử sự bắt buộc các chủ thể phải cung cấp thông tin, bảo mật thông tin và thực hiện một số hành vi khác nhằm chuẩn bị các điều kiện thiết yếu cho việc hình thành hợp đồng hợp pháp. |
| 2 |
Khi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng, các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nào từ việc vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng đó? |
Xét ở góc độ pháp lý, hành vi trái pháp luật có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm thực hiện thì phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trong giai đoạn tiền hợp đồng, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể phải gánh chịu các hậu quả pháp lý như hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại. |
| 3 |
Những hạn chế, bất cập nào của pháp luật hiện hành về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng? |
Thuật ngữ "nghĩa vụ tiền hợp đồng" chưa được sử dụng chính thức trong BLDS 2015; các nội dung còn bị phân tán và phụ thuộc vào cách hiểu nội hàm. Do đó, pháp luật dân sự và các lĩnh vực chuyên ngành phải minh định đầy đủ về nghĩa vụ tiền hợp đồng, các nghĩa vụ cụ thể, hậu quả pháp lý và hình thành một chế định hoàn chỉnh. |
| 4 |
Những vấn đề pháp lý nào cần đặt ra khi hoàn thiện vấn đề nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng? |
Cần xây dựng hoàn chỉnh chế định tiền hợp đồng; cụ thể hóa từng loại nghĩa vụ tiền hợp đồng để tạo thuận lợi cho thực tiễn thực hiện; đồng thời xác định rõ ràng hậu quả pháp lý tương ứng cho từng hành vi vi phạm. |
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ tiền hợp đồng cùng hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, đặt trong sự so sánh, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia như Hà Lan, Anh, Pháp, Đức và các văn kiện quốc tế.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tác giả không bao quát mọi nghĩa vụ phát sinh trên thực tế mà tập trung vào các nghĩa vụ cơ bản gồm nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ bảo mật thông tin, nghĩa vụ trong đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, cùng các hậu quả pháp lý tương ứng.
- Về không gian: Các nội dung được khảo sát trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, kết hợp nghiên cứu so sánh với hệ thống Common Law, Civil Law và các văn kiện như Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), Bộ nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu (PECL), Bộ nguyên tắc của Luật Hợp đồng bảo hiểm Châu Âu (PEICL), Dự thảo khung tham chiếu chung Châu Âu và Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực đến năm 2021; đồng thời khảo sát các bản án, quy định từ thời kỳ BLDS 1995 và BLDS 2005 để phân tích tính kế thừa của các quy tắc về trung thực, thiện chí và chế tài vô hiệu do lừa dối khi giao kết.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành rà soát, phân loại và đánh giá một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài.
Trong nước, các công trình được tác giả phân chia theo các nhóm ấn phẩm:
- Về sách chuyên khảo, bình luận khoa học và giáo trình: Tác phẩm "Việt Nam Dân luật – lược khảo, quyển II – nghĩa vụ và khế ước" của Vũ Văn Mẫu (1962) khảo cứu về nguồn gốc nghĩa vụ, chuẩn khế ước, sự khi trá và bạo lực trong xác lập quan hệ dân sự; "Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ" của Phạm Thái Việt (1993) làm rõ sự biến đổi của nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống; "Pháp luật về hợp đồng" của Nguyễn Mạnh Bách (1995) phân tích nghĩa vụ và trách nhiệm hợp đồng; "Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản" của Viện nghiên cứu khoa học - Bộ Tư pháp (1996); "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Như Phát và Lê Thị Thu Thủy đồng chủ biên (2003); "Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004" do Nhà Pháp luật Việt - Pháp biên dịch (2005); "Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Khánh (2007); các sách bình luận khoa học BLDS 2015 do Nguyễn Minh Tuấn chủ biên (2016) và Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ đồng chủ biên (2017); tác phẩm "Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận bản án" của Đỗ Văn Đại (2018); "Pháp luật về hợp đồng" của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2018) và "Các thuật ngữ hợp đồng thông dụng" của Nhà pháp luật Việt - Pháp (2019).
- Về luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Vũ Hoàng (2008) về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, phân chia quan hệ tiền hợp đồng thành giai đoạn trước và sau khi xác lập đề nghị giao kết; luận án tiến sĩ của Lê Trường Sơn (2015) tiếp cận giai đoạn tiền hợp đồng từ thời điểm một bên thể hiện ý muốn xác lập hợp đồng đến khi hợp đồng được giao kết, tập trung vào nghĩa vụ cung cấp và bảo mật thông tin; luận án tiến sĩ của Lê Thị Hải Ngọc (2017) về nghĩa vụ cung cấp thông tin chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng; luận văn thạc sĩ của Dư Hoài Phương (2014) về hoàn thiện pháp luật giao kết hợp đồng thương mại; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Nga (2021) so sánh chế định trách nhiệm tiền hợp đồng giữa Việt Nam và một số quốc gia.
- Về bài báo khoa học và hội thảo: Luận án tổng hợp các nghiên cứu của Phạm Sĩ Hải Quỳnh (2008), Phan Lăng (2005), Phạm Hoàng Giang (2006), Đỗ Văn Đại (2007), Phạm Thị Thúy Nga (2007), Ngô Huy Cương (2008), Hoàng Thị Thanh Thủy (2011), Kiều Thị Thùy Linh (2015), Võ Minh Trí và Trần Phú Quý (2015), Hoàng Minh Thái và Nguyễn Thị Tố Như (2016), Nguyễn Bình Minh và Hà Công Anh Bảo (2017), Hoàng Thị Hải Yến và Nguyễn Thị Kiều My (2017, 2018), Nguyễn Thị Kim Thoa (2017), Vũ Thị Ngọc Huyền và Trần Ngọc Phương Minh (2018), Hoàng Minh Thái (2018), Nguyễn Hải Yến và Nguyễn Ngọc Yến (2018), Bùi Đăng Hiếu (2019).
Ở phạm vi quốc tế, tác giả khảo sát nhiều công trình tiêu biểu:
- Về chuyên khảo và luận văn: Paula Giliker (2002) với "Pre-Contractual liability in English and French law"; M. Cartwright (2008) với "Precontractual Liability in European Private Law: Conclusions"; Gerrit De Geest (2009) với "Encyclopedia of Law and Economics"; Gerhard Dannemann và Stefan Vogenauer (2013) nghiên cứu tương tác giữa Luật Bán hàng Châu Âu (CESL) với luật Anh và Đức; luận văn thạc sĩ của Florence Caterini (2004) so sánh nghĩa vụ tiền hợp đồng ở Pháp và Hoa Kỳ; luận văn tốt nghiệp của Xiao-Yang Li (2017) so sánh luật Đức và Anh để đề xuất cho dự thảo BLDS Trung Quốc.
- Về bài báo học thuật: Paula Giliker (2003) phân tích vai trò bồi thường trong đàm phán tại Anh, Pháp, Canada; Alan Schwartz và Robert E. Scott (2007) phân tích trách nhiệm pháp lý gắn với các thỏa thuận sơ bộ; Pedro Barasnevicius Quagliato (2008) khảo sát nghĩa vụ thương lượng thiện chí giữa Civil Law và Common Law; Julija Kiršienė (2009) nghiên cứu án lệ Tòa án Tối cao Lithuania về bồi thường mất cơ hội trong đàm phán; Dan-Alexandru Sitaru (2013) về nghĩa vụ tiền hợp đồng trong nhượng quyền thương mại; Richard G Lewis (2013) về trách nhiệm đàm phán trong các công ty công nghệ Anh; Mgr. Jiří Kučera (2015) và Jiří Spousta, Magda Stárková (2016) phân tích quy định mới về trách nhiệm tiền hợp đồng theo BLDS Cộng hòa Séc năm 2012; Jono Yeo (2015) so sánh quasi-contracts; Ivan Karpják (2017) khảo sát trách nhiệm tiền hợp đồng trong các thương vụ mua bán - sáp nhập (M&A) tại Séc; Kim Ho và Han Joon Duk (2017) phân tích trách nhiệm tiền hợp đồng theo CISG; Kirsten Massey, James Norris-Jones và Sarah Pollock nghiên cứu về các phát ngôn trong đàm phán hợp đồng.
Từ việc tổng kết các công trình trên, luận án xác định các khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết:
- Chưa có sự thống nhất về phạm vi thời gian của giai đoạn tiền hợp đồng: phần lớn tác giả xác định giai đoạn này kết thúc khi hợp đồng được giao kết, nhưng chưa làm rõ khoảng thời gian từ khi hợp đồng được giao kết đến khi phát sinh hiệu lực pháp luật.
- Khái niệm và tính chất của nghĩa vụ tiền hợp đồng chưa được phân định rành mạch: một số học giả tiếp cận dưới góc độ một dạng nghĩa vụ dân sự cụ thể, trong khi số khác lại đồng nhất với trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm.
- Các công trình hiện có chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận một vài nghĩa vụ đơn lẻ (như cung cấp thông tin hoặc bảo mật thông tin) hoặc phân tích dưới góc độ một hợp đồng chuyên biệt (bảo hiểm, nhượng quyền thương mại), thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về nghĩa vụ tiền hợp đồng và cơ chế xử lý hậu quả pháp lý trong tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nội dung dựa trên hệ thống các học thuyết pháp lý nền tảng:
- Thuyết tự do ý chí và nguyên tắc tự do hợp đồng: Khẳng định quyền của các bên trong việc tự do đàm phán, tự do xác định nội dung, hình thức và lựa chọn đối tác tham gia giao dịch.
- Nguyên tắc thiện chí, trung thực (bona fides): Được xác định là nguyên tắc nền tảng giữ vai trò giới hạn quyền tự do hợp đồng, chi phối hành vi của các chủ thể xuyên suốt từ khi thiết lập tiếp xúc đàm phán cho đến khi hợp đồng hình thành hoặc chấm dứt.
- Thuyết trách nhiệm tiền hợp đồng (culpa in contrahendo) trong hệ thống Civil Law: Xuất phát từ học thuyết của luật gia Rudolph von Jhering, thiết lập cơ chế buộc bên có hành vi sai trái, không thiện chí trong đàm phán phải bồi thường thiệt hại cho bên ngay tình.
- Thuyết ngăn cấm rút lại lời hứa (promissory estoppel) trong hệ thống Common Law: Được áp dụng như một ngoại lệ nhằm bảo vệ bên có niềm tin hợp lý vào lời hứa của đối tác đàm phán.
Phương pháp luận chỉ đạo của nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít, cùng quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế - dân sự trong tiến trình hội nhập.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả kết hợp sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Vận dụng xuyên suốt tất cả các chương để mổ xẻ các học thuyết pháp lý, làm rõ các quy phạm của BLDS 2015, các luật chuyên ngành và tổng kết các luận điểm rút ra từ các công trình nghiên cứu.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phác họa logic cấu trúc toàn bộ đề tài, sắp xếp các công trình nghiên cứu theo chuỗi không gian và thời gian nhằm làm nổi bật tính kế thừa của khoa học pháp lý.
- Phương pháp so sánh luật học: Được vận dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 3 để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các văn kiện pháp lý quốc tế (PICC, PECL, PEICL, CISG, CESL) và pháp luật các quốc gia đại diện cho hai hệ thống Civil Law và Common Law (Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan, Séc, Trung Quốc).
- Phương pháp phân tích tình huống: Được sử dụng tại Chương 3 nhằm phân tích các bản án, quyết định của Tòa án và các vụ việc thực tế trong các lĩnh vực kinh tế, từ đó chỉ ra những vướng mắc và làm căn cứ cho các kiến nghị lập pháp.
Nguồn tư liệu, dữ liệu của luận án bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (BLDS 1995, 2005, 2015; Luật Thương mại 2005; Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Bộ luật Lao động); các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam; các án lệ và báo cáo thực tiễn quốc tế; các bộ quy tắc, công ước quốc tế về hợp đồng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng
Trong chương này, tác giả tập trung giải quyết các vấn đề lý luận cơ bản tạo khung phân tích cho toàn bộ luận án:
- Khái quát về giai đoạn tiền hợp đồng: Luận án phân tích khái niệm và chỉ ra các đặc điểm đặc thù của giai đoạn này, nơi các bên chưa phát sinh ràng buộc hợp đồng nhưng đã bắt đầu tương tác, tác động pháp lý lẫn nhau. Tác giả luận giải về hai nguyên tắc điều chỉnh cơ bản: nguyên tắc tự do hợp đồng (tự do thương lượng, tự do lựa chọn đối tác, tự do ấn định nội dung hoặc rút khỏi đàm phán) và nguyên tắc trung thực, thiện chí (đóng vai trò điều chỉnh hành vi, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền tự do nhằm làm phương hại đến quyền lợi của bên cùng đàm phán).
- Khái quát về nghĩa vụ tiền hợp đồng: Tác giả xây dựng định nghĩa nghĩa vụ tiền hợp đồng là các xử sự mang tính bắt buộc mà pháp luật yêu cầu các bên tham gia đàm phán phải tuân thủ trước khi hợp đồng được giao kết. Luận án phân tích các đặc điểm, cơ sở phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng từ nguyên tắc thiện chí và sự tin cậy hợp lý; thực hiện phân biệt rõ ràng giữa nghĩa vụ tiền hợp đồng (phát sinh trước khi có hợp đồng, không nhằm mục đích hưởng thụ lợi ích vật chất trực tiếp từ hợp đồng) và nghĩa vụ trong hợp đồng (phát sinh khi hợp đồng đã có hiệu lực, gắn liền với quyền yêu cầu thực hiện cam kết). Đồng thời, tác giả khảo cứu quan điểm của một số quốc gia đại diện cho hai trường phái Civil Law (công nhận culpa in contrahendo) và Common Law (ưu tiên tự do rút lui khỏi đàm phán, chỉ áp dụng ngoại lệ promissory estoppel).
- Khái quát về hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng: Luận án đưa ra khái niệm và phân loại các hình thức hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với chủ thể vi phạm, bao gồm: tuyên bố hợp đồng vô hiệu (khi vi phạm làm sai lệch ý chí tự nguyện như lừa dối, đe dọa, che giấu thông tin); hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng; và trách nhiệm bồi thường thiệt hại (bồi hoàn các chi phí thực tế đã bỏ ra cho việc đàm phán, chuẩn bị giao kết hoặc bồi thường thiệt hại do mất cơ hội).
Chương 2: Pháp luật hiện hành về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy chuẩn pháp luật thực định của Việt Nam, đối chiếu giữa BLDS 2015 và các luật chuyên ngành:
- Thực trạng pháp luật về các nghĩa vụ tiền hợp đồng cơ bản:
- Nghĩa vụ cung cấp thông tin: Phân tích Điều 387 BLDS 2015 và các quy định rải rác trong Luật Kinh doanh bảo hiểm (nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh), Bộ luật Lao động (nghĩa vụ thông tin giữa người lao động và người sử dụng lao động), Luật Các tổ chức tín dụng. Tác giả chỉ rõ tiêu chí xác định "thông tin ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng" tại Điều 387 hiện vẫn còn định tính, thiếu hướng dẫn cụ thể về mức độ thiết yếu của thông tin.
- Nghĩa vụ bảo mật thông tin: Phân tích khoản 2 Điều 387 BLDS 2015 về trách nhiệm không được tiết lộ hoặc sử dụng thông tin bí mật vào mục đích riêng hay mục đích trái pháp luật khi nhận được trong đàm phán; liên hệ với quy định về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng và bí quyết kinh doanh trong nhượng quyền thương mại.
- Nghĩa vụ của các bên trong đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Phân tích các điều kiện ràng buộc đối với bên đưa ra lời đề nghị, thời hạn trả lời, quyền rút lại, hủy bỏ hoặc thay đổi đề nghị theo quy định của BLDS 2015.
- Thực trạng pháp luật về hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng:
- Hợp đồng vô hiệu: Phân tích các quy định tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, nhầm lẫn hoặc đe dọa cưỡng ép (Điều 126, Điều 127 BLDS 2015) khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin trung thực trong đàm phán.
- Hủy hợp đồng, chấm dứt hợp đồng: Khảo sát các trường hợp vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng dẫn đến quyền đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng theo luật chuyên ngành (như doanh nghiệp bảo hiểm đình chỉ hợp đồng khi bên mua cung cấp sai thông tin).
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Luận giải quy định tại khoản 3 Điều 387 BLDS 2015. Tác giả chỉ ra điểm bất cập là luật chưa làm rõ bản chất bồi thường thiệt hại ở đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay một dạng trách nhiệm tiền hợp đồng đặc thù, đồng thời chưa có cơ chế cụ thể để xác định các khoản tổn thất được bồi thường (chi phí cơ hội, chi phí thẩm định, đàm phán).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng
Chương 3 kết hợp khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật và xây dựng hệ thống giải pháp:
- Thực tiễn thực hiện pháp luật: Tác giả phân tích các tranh chấp phát sinh trên thực tế tại Tòa án liên quan đến vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng trong một số lĩnh vực trọng điểm:
- Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm: Tranh chấp phổ biến về việc bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ kê khai tiền sử bệnh tật hoặc doanh nghiệp bảo hiểm không giải thích rõ điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong giai đoạn giải thích quy tắc hợp đồng.
- Lĩnh vực hoạt động ngân hàng và tín dụng: Tranh chấp về cung cấp thông tin tài sản bảo đảm, bảo mật dữ liệu tài khoản khách hàng trước khi ký hợp đồng tín dụng.
- Lĩnh vực lao động và thương mại: Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về điều kiện làm việc, năng lực tài chính, và các xung đột phát sinh từ việc rút lui đột ngột khỏi đàm phán sau khi bên kia đã đầu tư chi phí chuẩn bị mặt bằng, mua sắm máy móc.
- Thực tiễn xét xử: Tác giả chỉ rõ Tòa án các cấp còn gặp lúng túng khi xác định căn cứ bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hoặc khi xử lý các thỏa thuận sơ bộ (như đặt cọc giữ chỗ, biên bản ghi nhớ hợp tác), nhiều trường hợp dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa chế định vô hiệu và bồi thường thiệt hại.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Xác định các yêu cầu hoàn thiện: Đảm bảo hài hòa giữa tôn trọng tự do hợp đồng và bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ bên thế yếu; đồng bộ hóa giữa BLDS và các luật chuyên biệt; tương thích với các quy chuẩn pháp lý quốc tế.
- Một số kiến nghị cụ thể:
- Chính thức pháp điển hóa chế định "nghĩa vụ tiền hợp đồng" thành một mục hoặc nhóm điều luật độc lập trong BLDS.
- Cụ thể hóa phạm vi nghĩa vụ cung cấp thông tin tại Điều 387, đưa ra tiêu chí minh thị về các thông tin buộc phải công khai (thông tin về tư cách chủ thể, đối tượng hợp đồng, các hạn chế pháp lý).
- Hoàn thiện quy định về bảo mật thông tin, quy định rõ nghĩa vụ bồi thường phát sinh ngay cả khi hợp đồng không được xác lập nếu bên nhận thông tin sử dụng trái phép thông tin mật của đối tác đàm phán.
- Xác định rõ ràng bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng, xây dựng nguyên tắc xác định thiệt hại bao gồm chi phí hợp lý đã chi trả cho việc thương lượng và thiệt hại do mất cơ hội giao kết hợp đồng với bên thứ ba có căn cứ xác thực.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý như sau:
-
Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận về giai đoạn tiền hợp đồng, nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ mối tương quan giữa nguyên tắc tự do hợp đồng và nguyên tắc trung thực, thiện chí; đối chiếu có hệ thống các trường phái tiếp cận trong hệ thống Civil Law và Common Law cùng các chuẩn mực quốc tế (PICC, PECL, CISG), cung cấp cơ sở lý luận cho việc công nhận một chế định tiền hợp đồng độc lập trong khoa học pháp lý Việt Nam.
-
Về mặt thực tiễn và hoàn thiện pháp luật: Luận án rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định của BLDS 2015 và các đạo luật chuyên ngành (kinh doanh bảo hiểm, ngân hàng, bảo vệ người tiêu dùng, lao động); phân tích các điểm nghẽn, bất cập và sự lúng túng của Tòa án trong việc định danh và xử lý hành vi vi phạm tiền hợp đồng. Từ đó, tác giả đưa ra hệ thống kiến nghị lập pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm sửa đổi Điều 387 BLDS 2015 và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật chuyên ngành.
-
Về mặt ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật; đồng thời hỗ trợ các cơ quan tài phán (Tòa án, Trọng tài thương mại), luật sư và các chủ thể kinh doanh có thêm căn cứ pháp lý trong việc đàm phán, soạn thảo hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ giai đoạn tiền hợp đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, căn cứ theo phạm vi nghiên cứu được tác giả công bố:
- Luận án không đi sâu vào giải quyết toàn bộ tất cả các loại nghĩa vụ có thể nảy sinh trên thực tế đàm phán thương mại mà giới hạn tập trung vào ba nhóm nghĩa vụ tiền hợp đồng cơ bản nhất: nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ bảo mật thông tin, và nghĩa vụ trong đề nghị/chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
- Về phạm vi thực tiễn, các tình huống và bản án khảo sát chủ yếu tập trung trong một số ngành nghề, lĩnh vực tiêu biểu (bảo hiểm nhân thọ, tín dụng ngân hàng, mua bán hàng hóa, lao động), chưa bao quát hết mọi mô hình hợp đồng kinh doanh - thương mại phức tạp như chuyển giao công nghệ hay đầu tư tài chính phái sinh.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án mở ra hướng tiếp tục nghiên cứu các nghĩa vụ tiền hợp đồng khác chưa được khảo sát sâu, bao gồm: nghĩa vụ cảnh báo các rủi ro tiềm ẩn, nghĩa vụ tôn trọng quyền độc quyền đàm phán (nếu có thỏa thuận), và nghĩa vụ đàm phán lại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản phát sinh ngay trong tiến trình thương lượng.
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện phương pháp và cơ chế xác định giá trị thiệt hại thực tế, đặc biệt là phương thức tính toán thiệt hại do mất cơ hội kinh doanh (lost opportunity) và chi phí phát sinh từ việc phá vỡ các thỏa thuận sơ bộ trong các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp (M&A).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp: Luận án là tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự và các văn bản luật chuyên ngành trong việc xây dựng khung pháp lý minh bạch cho giai đoạn đàm phán hợp đồng, bảo vệ bên thế yếu và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch.
- Đối với cơ quan xét xử (Thẩm phán, Trọng tài viên): Cung cấp các luận cứ khoa học để phân biệt hành vi vi phạm trong đàm phán, hỗ trợ định danh chính xác lỗi, từ đó áp dụng đúng đắn các chế tài tuyên bố vô hiệu hoặc bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hay bảo mật thông tin.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên luật: Là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về luật nghĩa vụ và hợp đồng so sánh; gợi mở nhiều chủ đề học thuật liên quan đến culpa in contrahendo, promissory estoppel, và nguyên tắc thiện chí trong giao kết hợp đồng.
- Đối với doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Cung cấp hiểu biết toàn diện về các rủi ro pháp lý tiềm ẩn trong giai đoạn thương lượng, hỗ trợ soạn thảo các thỏa thuận bảo mật (NDA), thư bày tỏ ý định (LOI), biên bản ghi nhớ (MOU) và quản trị rủi ro thông tin trước khi ký kết văn bản hợp đồng chính thức.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định thời điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạn tiền hợp đồng như thế nào?
Luận án tổng kết rằng phần lớn các học giả tiếp cận giai đoạn tiền hợp đồng bắt đầu từ thời điểm một bên thể hiện ý chí muốn xác lập một hợp đồng đến khi hợp đồng được giao kết. Tuy nhiên, luận án chỉ ra điểm cần làm rõ thêm là khoảng thời gian sau khi hợp đồng đã giao kết nhưng chưa phát sinh hiệu lực (theo thỏa thuận hoặc theo luật định) vẫn cần được xem xét thấu đáo trong mối liên hệ với các nghĩa vụ của giai đoạn này.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa hệ thống Common Law và Civil Law đối với trách nhiệm tiền hợp đồng theo nghiên cứu của tác giả là gì?
Trong hệ thống Common Law, các bên được hưởng quyền tự do hoàn toàn trong việc rút lui khỏi đàm phán mà không phải chịu trách nhiệm đối với chi phí của bên kia; trách nhiệm tiền hợp đồng thường không được thừa nhận tổng quát ngoại trừ trường hợp áp dụng thuyết ngăn cấm rút lại lời hứa (promissory estoppel). Trái lại, trong hệ thống Civil Law, nguyên tắc trung thực, thiện chí được thừa nhận rộng rãi thông qua học thuyết trách nhiệm tiền hợp đồng (culpa in contrahendo), buộc bên vi phạm sự tín nhiệm trong đàm phán phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
3. Điều 387 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những nghĩa vụ nào trong giai đoạn tiền hợp đồng?
Điều 387 BLDS 2015 ghi nhận trực tiếp hai nghĩa vụ tiền hợp đồng:
- Nghĩa vụ cung cấp thông tin: Một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.
- Nghĩa vụ bảo mật thông tin: Bên nhận được thông tin bí mật trong quá trình giao kết hợp đồng có trách nhiệm bảo mật và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng hoặc mục đích trái pháp luật khác.
Khoản 3 Điều 387 đồng thời quy định bên vi phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Luận án đề xuất những loại hậu quả pháp lý nào đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng?
Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, luận án xác định các hậu quả pháp lý gồm: tuyên bố hợp đồng vô hiệu (khi vi phạm nguyên tắc tự nguyện do lừa dối, đe dọa, thiếu thông tin cốt lõi); hủy bỏ hoặc đình chỉ/chấm dứt thực hiện hợp đồng; và trách nhiệm bồi thường thiệt hại (bao gồm bồi hoàn các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình đàm phán, chuẩn bị và bồi thường thiệt hại do mất cơ hội giao kết hợp đồng khác).
5. Vì sao luận án cho rằng cần hoàn thiện quy định về thỏa thuận sơ bộ trong đàm phán hợp đồng?
Trong thực tiễn đàm phán hiện đại, các bên thường ký kết thỏa thuận sơ bộ, thư bày tỏ ý định hoặc biên bản ghi nhớ trước khi ký hợp đồng chính thức. Sự thiếu vắng khung pháp lý minh bạch trong BLDS 2015 về bản chất và giá trị ràng buộc của các thỏa thuận này dẫn đến tranh chấp gay gắt về việc một bên có quyền rút khỏi đàm phán hay không và bên đã đầu tư chi phí chuẩn bị có được bồi hoàn thiệt hại hay không.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Hoa đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng cùng hậu quả pháp lý do vi phạm tại Việt Nam. Thông qua phương pháp so sánh luật học giữa truyền thống Civil Law, Common Law và các bộ nguyên tắc quốc tế như PICC, PECL, CISG, công trình đã làm nổi bật những khoảng trống và bất cập của Điều 387 BLDS 2015 cũng như các văn bản luật chuyên ngành. Các luận điểm và kiến nghị hoàn thiện chế định tiền hợp đồng mà luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ sự trung thực, thiện chí và an toàn giao kết hợp đồng trong nền kinh tế thị trường định hướng hội nhập.