Tổng quan nghiên cứu

Luật Doanh nghiệp 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 đã đánh dấu bước tiến mới trong việc hoàn thiện thể chế quản trị công ty tại Việt Nam, tác động trực tiếp đến 100% doanh nghiệp thuộc các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử giai đoạn 2010–2022 cho thấy có đến hơn 80% các vụ việc tranh chấp nội bộ phát sinh từ hành vi lạm quyền, tư lợi hoặc buông lỏng quản lý của người điều hành. Khoảng trống pháp lý về việc thiếu vắng các tiêu chí định lượng cụ thể cho nghĩa vụ cẩn trọng và trung thực đang tạo ra rủi ro nghiêm trọng cho các nhà đầu tư và chủ nợ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ toàn diện cơ sở lý luận về nghĩa vụ của người quản lý, đánh giá thực trạng quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020 đối chiếu với 4 hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới gồm Anh, Mỹ, Úc và Singapore. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề phân định quyền sở hữu và quyền quản lý, đồng thời đề xuất cơ chế khởi kiện phái sinh hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi cổ đông. Phạm vi nghiên cứu bao quát các tranh chấp thương mại điển hình tại Việt Nam trong giai đoạn 17 năm, từ năm 2005 đến năm 2022. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống chế tài dân sự, giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng dựa trên hai lý thuyết kinh tế – pháp lý nền tảng. Thứ nhất là Học thuyết đại diện, phân tích sâu sắc mối quan hệ ủy thác giữa chủ sở hữu và bên thụ ủy là người quản lý, trong đó nhấn mạnh sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích nội tại. Thứ hai là Học thuyết trách nhiệm ủy thác bắt nguồn từ truyền thống thông luật, xác lập hai trụ cột bổn phận cơ bản mà người điều hành phải gánh vác khi nhận quyền tài sản.

Khung phân tích của đề tài chuẩn hóa 5 khái niệm chuyên ngành then chốt: người quản lý chính danh, người quản lý thực tế, người quản lý ngầm, bổn phận cẩn trọng và bổn phận trung thành. Theo quy định tại Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 kết hợp các án lệ quốc tế, hệ thống quản trị đòi hỏi người quản lý phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích tối cao của công ty. Tại một số quốc gia phát triển như Úc, hành vi vi phạm nghĩa vụ ủy thác có thể bị xử phạt tài chính lên tới 110.000 USD hoặc đối mặt với mức án tù giam 10 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, bao gồm Luật Doanh nghiệp 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Chứng khoán 2019 cùng các quy tắc chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu thực nghiệm gồm 30 bản án và quyết định giám đốc thẩm về tranh chấp kinh doanh thương mại được thu thập trong giai đoạn 2010–2022, kết hợp phỏng vấn sâu 15 chuyên gia pháp lý, Thẩm phán Tòa Kinh tế và Luật sư tranh tụng. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu được áp dụng nhằm tập trung vào những vụ án điển hình có tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vi phạm nghĩa vụ trung thực. Lý do lựa chọn phương pháp luật học so sánh kết hợp phân tích quy nạp là nhằm đối chiếu trực tiếp các chuẩn mực quản trị tiến bộ của Đạo luật Mẫu về Công ty Kinh doanh Hoa Kỳ với thực tiễn xét xử tại Việt Nam, từ đó chỉ ra chính xác các điểm nghẽn thể chế cần tháo gỡ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp 2020 đã đổi mới tiến bộ khi phân hóa rõ nét giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, đồng thời trao quyền tự chủ tuyệt đối cho 100% doanh nghiệp được tự quy định các chức danh quản lý khác trong Điều lệ mà không bị ràng buộc bởi điều kiện đại diện ký kết giao dịch.

Thứ hai, khung pháp lý Việt Nam hiện nay chỉ bao quát được nhóm người quản lý chính danh, bỏ ngỏ hoàn toàn trách nhiệm của người quản lý thực tế và người quản lý ngầm. Bài học từ vụ kiện kinh điển tại Úc giữa Standard Chartered Bank và Công ty Antico cho thấy một pháp nhân sở hữu 42% cổ phần chi phối hoàn toàn có thể bị quy kết tư cách quản lý ngầm để gánh vác toàn bộ nghĩa vụ tài chính khi công ty con mất khả năng thanh toán.

Thứ ba, cơ chế chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ trung thực còn quá nhẹ so với thiệt hại thực tế. Điển hình như vụ việc thao túng và bán chui 74,8 triệu cổ phiếu của Tập đoàn FLC vào ngày 10/01/2022 với khối lượng khớp lệnh kỷ lục gần 135 triệu đơn vị trong một phiên, hoặc vụ việc bán 57 triệu cổ phiếu năm 2017 chiếm 10% vốn điều lệ thu lợi bất chính gần 50 tỷ đồng nhưng chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính 65 triệu đồng, cho thấy mức phạt cũ chỉ tương đương khoảng 0,13% lợi nhuận thu được.

Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự của người quản lý đã bước đầu được khẳng định qua thực tiễn xét xử. Theo Bản án phúc thẩm số 29/2017/KDTM-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Giám đốc đã bị buộc bồi thường trực tiếp số tiền hơn 1,72 tỷ đồng do vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng khi tự ý giao kết hợp đồng và tuyển dụng lao động trái quy định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ việc các nhà lập pháp Việt Nam tiếp thu các quy định pháp luật nước ngoài mang tính cơ học mà chưa xây dựng được học thuyết nội địa hoàn chỉnh để định lượng tiêu chí cẩn trọng và trung thực. Khi so sánh với các nghiên cứu chuyên sâu của các chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam, luận văn chỉ ra rằng việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao chưa ban hành các án lệ hoặc nghị quyết hướng dẫn chuyên biệt đã khiến các Thẩm phán cấp cơ sở gặp lúng túng khi xác định yếu tố lỗi của người điều hành.

Các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm trong luận văn có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng đối chiếu ma trận trách nhiệm pháp lý giữa ba nhóm chức danh quản lý và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ chênh lệch giữa mức xử phạt hành chính với tổng giá trị thiệt hại kinh tế. Việc trực quan hóa này chứng minh rõ ràng tính cấp thiết của việc áp dụng các chế tài tài chính mang tính răn đe cao đối với các giao dịch tư lợi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 4 theo hướng luật hóa khái niệm người quản lý thực tế và người quản lý ngầm, đảm bảo bao quát 100% các cá nhân và tổ chức nắm quyền chỉ đạo điều hành trên thực tế, dự kiến hoàn thành trước quý 4 năm 2026.

Thứ hai, Tòa án nhân dân Tối cao cần xây dựng và ban hành tối thiểu 02 án lệ tiêu chuẩn cùng 01 Nghị quyết chuyên đề hướng dẫn giải thích cụ thể nội hàm của tiêu chuẩn cẩn trọng và trung thực trong thời hạn 12 tháng, tạo căn cứ pháp lý vững chắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất.

Thứ ba, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp cùng Bộ Tư pháp đề xuất nâng khung xử phạt hành chính đối với các hành vi không công bố thông tin và giao dịch tư lợi lên mức gấp từ 3 đến 5 lần giá trị thu lợi bất hợp pháp, áp dụng lộ trình triển khai từ đầu năm 2025 nhằm triệt tiêu hoàn toàn động cơ trục lợi.

Thứ tư, các doanh nghiệp và cổ đông cần chủ động rà soát, tái cấu trúc Điều lệ nội bộ, thiết lập tỷ lệ tối thiểu 20% thành viên độc lập Hội đồng quản trị theo khuyến nghị của Tổ chức Tài chính Quốc tế ngay trong kỳ họp Đại hội đồng cổ đông thường niên gần nhất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng có thể khai thác hệ thống luận cứ khoa học cùng 30 bản án thực nghiệm trong luận văn để phục vụ công tác sửa đổi Luật Doanh nghiệp và nâng cao chất lượng xét xử các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại.

Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc các doanh nghiệp sử dụng tài liệu này như cuốn cẩm nang quản trị rủi ro, giúp nhận diện rõ ranh giới pháp lý của nghĩa vụ ủy thác và giảm thiểu tới 80% các rủi ro pháp lý cá nhân trong quá trình điều hành thường nhật.

Cổ đông, nhà đầu tư tài chính và chủ nợ tìm thấy trong luận văn các công cụ pháp lý sắc bén để bảo vệ quyền tài sản, nắm vững quy trình khởi kiện phái sinh nhằm yêu cầu người điều hành bồi thường khi phát hiện các giao dịch tư lợi.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế có thể kế thừa khung phân tích luật học so sánh chuyên sâu và hệ thống tài liệu tham khảo phong phú để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quản trị công ty.

Câu hỏi thường gặp

Người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp 2020 bao gồm những chức danh nào?

Theo khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý công ty gồm hai nhóm: nhóm chức danh bắt buộc theo luật định như Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc; và nhóm chức danh quản lý khác được quy định cụ thể tại Điều lệ công ty như Giám đốc Tài chính hoặc Kế toán trưởng.

Người quản lý ngầm không có chức danh chính thức có phải chịu trách nhiệm pháp lý không?

Theo kinh nghiệm lập pháp quốc tế như Điều 9 Luật Công ty Úc 2001, người đưa ra chỉ đạo điều hành thực tế vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới toàn diện. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có điều khoản trực tiếp điều chỉnh chủ thể này, đòi hỏi Tòa án phải áp dụng quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự.

Tiêu chuẩn nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý được đánh giá dựa trên cơ sở nào?

Tiêu chuẩn này được xác định dựa trên mức độ cẩn trọng, mẫn cán mà một người quản lý bình thường có năng lực chuyên môn tương đương sẽ thực hiện trong cùng hoàn cảnh. Điển hình tại Bản án số 29/2017/KDTM-PT, việc Tổng Giám đốc tuyển dụng lao động không phép đã bị Tòa án phán quyết là thiếu cẩn trọng và buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh.

Hành vi vi phạm nghĩa vụ trung thực của người quản lý bị xử lý bằng những chế tài nào?

Tùy theo tính chất vi phạm, người quản lý có thể bị bãi nhiệm tư cách, buộc hoàn trả toàn bộ lợi nhuận thu được cho công ty, chịu chế tài xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại dân sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thao túng thị trường chứng khoán theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Cổ đông nắm giữ tỷ lệ vốn nhỏ có quyền tự mình khởi kiện người quản lý hay không?

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty thực hiện quyền khởi kiện phái sinh đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc khi họ vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn mang tính then chốt:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ ủy thác giữa chủ sở hữu và người điều hành công ty.
  • Làm rõ bản chất pháp lý của các chuẩn mực bổn phận ủy thác theo hệ thống thông luật quốc tế.
  • Nhận diện 4 điểm nghẽn thể chế lớn trong các quy định về nghĩa vụ của người quản lý tại Luật Doanh nghiệp 2020.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng phong phú thông qua việc phân tích chuyên sâu 30 bản án thực tế.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp lập pháp và tư pháp có tính khả thi cao giai đoạn 2024–2026.

Việc hoàn thiện chế định trách nhiệm của người quản lý công ty là yêu cầu sống còn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các cơ quan quản lý nhà nước, giới học thuật và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ để nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất của luận văn vào thực tiễn pháp lý Việt Nam.