CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại người quản lý công ty 1. Khái niệm người quản lý công ty Theo khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Với cách định nghĩa này, người quản lý doanh nghiệp được xếp vào hai nhóm chính là (1) người quản lý doanh nghiệp tư nhân và (2) người quản lý công ty.
Người quản lý công ty bao gồm các chức danh tương ứng của mỗi loại hình công ty như sau: - Đối với công ty TNHH (cả loại hình công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên): Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo Điều lệ công ty; - Đối với công ty cổ phần là: Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo Điều lệ công ty; - Đối với công ty hợp danh là: thành viên hợp danh, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo Điều lệ công ty. Cũng giống các Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014, với cách định nghĩa trên, Luật Doanh nghiệp 2020 tiếp tục duy trì khái niệm về người quản lý doanh nghiệp căn cứ theo loại hình doanh nghiệp được thành lập và từng chức danh quản lý cụ thể của doanh nghiệp đó. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng đã có sự điều chỉnh và có những quy định tiến bộ hơn để khắc phục bất cập trong thời kỳ trước. Theo đó, tác giả có một số đánh giá như sau: Thứ nhất, tiếp tục kế thừa Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 không còn định nghĩa chủ sở hữu của công ty TNHH và công ty cổ phần là người quản lý doanh nghiệp như quy định trước đây của Luật Doanh nghiệp 2005, mà quy định này chỉ được áp dụng đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân.
Điều này cho thấy Luật Doanh nghiệp 2014 và 2020 đều đã có sự tiến bộ hơn trong việc tiếp thu học thuyết về đại diện (agency theory) trong quản trị công ty từ các nước theo hệ thống thông luật (common law system) có pháp luật công ty phát triển như Anh, Úc, Singapore, … Theo đó, quyền sở hữu và quyền quản lý công ty đã được phân biệt một cách rạch ròi, không 7 còn bị nhập nhằng với nhau như thời kỳ trước đây. Thứ hai, đối với loại hình công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quy định thành viên hợp danh là người quản lý công ty như Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014. Cần lưu ý rằng, pháp luật chỉ thừa nhận thành viên hợp danh trong công ty hợp danh mới là người quản lý, còn thành viên góp vốn thì không. Tuy nhiên, sau phần liệt kê “thành viên hợp danh” trong định nghĩa người quản lý doanh nghiệp, cả Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 đều đã bỏ đi cụm từ “… công ty hợp danh” của Luật Doanh nghiệp 2005 và sau đó đề cập đến cụm từ “… thành viên Hội đồng thành viên” theo nghĩa chung.
Điều này có khả năng dẫn đến sự nhầm lẫn cho người áp dụng pháp luật khi hiểu rằng, thành viên góp vốn cũng là một loại thành viên của Hội đồng thành viên trong công ty hợp danh như các quy định tại điểm b và c khoản 1 Điều 177, khoản 1 Điều 182 Luật Doanh nghiệp 2020. Theo đó, thành viên góp vốn cũng có thể bị hiểu lầm là người quản lý công ty theo định nghĩa tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 và khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020. Trong khi đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 187 Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên góp vốn hoàn toàn không có quyền tham gia quản lý công ty và cũng không được tiến thành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty (chỉ có thể nhân danh cá nhân mình hoặc nhân danh người khác tiến hành kinh doanh ngành, nghề kinh doanh của công ty). Như vậy, có thể thấy rằng cách sử dụng từ ngữ trong việc định nghĩa về người quản lý trong công ty hợp danh của Luật Doanh nghiệp 2020, nhất là đối với thành viên góp vốn, có bất cập và sự điều chỉnh là cần thiết để đảm bảo quy định pháp luật được hiểu rõ ràng, thống nhất một nghĩa và trách nhiệm của người quản lý được áp dụng đúng chủ thể.
Thứ ba, khi so sánh với Luật Doanh nghiệp 2014, cách định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp 2020 gần như tương tự. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng hướng đến việc đưa ra quy định mở để các công ty tùy theo tính chất đặc thù trong trong hoạt động kinh doanh và quản trị nội bộ của mình mà có thể tự quyết định thêm các chức danh quản lý khác, ngoài những chức danh quản lý bắt buộc phải có theo luật định. Điểm khác biệt quan trọng nhất so với Luật Doanh nghiệp 2014 là Luật Doanh nghiệp 2020 đã bỏ cụm từ “có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty” sau cụm từ “chức danh quản lý khác”. Sự thay đổi này thể hiện quan điểm của nhà làm luật là mở rộng phạm vi định nghĩa và giảm bớt các điều kiện để một chức danh trong công ty có thể được xem là người quản lý.
Cụ thể, chỉ cần Điều lệ công ty quy định một chức danh hay một cá nhân nào đó là người quản lý thì người này hiển nhiên được xem là người quản lý công ty và chịu các trách nhiệm tương ứng của người quản lý, mà không cần phải tính đến điều kiện có được nhân danh công ty thực hiện giao dịch hay không. Tác giả đánh giá rằng đây là quy định tuy không mới (vì đã từng được đề cập tại 8 khoản 13 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2005) nhưng đã giúp “cởi trói”, tạo ra sự linh hoạt cho các công ty và cũng rất tiến bộ so với Luật Doanh nghiệp 2014. Bởi lẽ, tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh và vấn đề quản trị doanh nghiệp, mỗi công ty đều có thể chủ động quyết định các chức danh quản lý nội bộ cho phù hợp với bối cảnh đặc thù của mình. Vì vậy, với sự thay đổi trong cách định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý công ty có thể được xem xét phân chia thành hai nhóm cơ bản.
Một là nhóm người có chức danh phổ biến như được quy định trong Luật Doanh nghiệp. Hai là nhóm người có chức danh khác được quy định theo Điều lệ công ty, chẳng hạn như Giám đốc pháp chế (Legal Director), Giám đốc tài chính (Chief Financial Offier – CFO), Kế toán trưởng (Chief Accountant – CA), các trưởng phòng, … Theo đó, đối với các chức danh quản lý được quy định tại Điều lệ công ty, để xem xét trách nhiệm của những người đảm nhận vị trí này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hoặc đưa ra quyết định trong công ty, thì công ty hoặc chủ sở hữu cần phải dựa trên quy định của Điều lệ công ty để đánh giá và kết luận đối với trách nhiệm của họ. Thứ tư, khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn duy trì cách thức quy định các nhóm chức danh người quản lý doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp 2014, cụ thể là phân chia thành nhóm người quản lý doanh nghiệp tư nhân và nhóm người quản lý công ty, sau đó liệt kê hàng loạt những chức danh cụ thể của các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự tiến bộ hơn so với Luật Doanh nghiệp 2014 về cách sắp xếp trật tự từ ngữ trong cách định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp 2020 đã xếp nhóm người quản lý doanh nghiệp tư nhân lên trước nhóm người quản lý công ty, và sau đó liệt kê các chức danh quản lý cụ thể cũng đúng với trật tự này. Nhìn chung, từ những đánh giá nêu trên, tác giả nhận thấy rằng Luật Doanh nghiệp 2020 đã duy trì những điểm tiến bộ, đồng thời loại bỏ những điểm không phù hợp trong cách định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp của cả Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng đã mở rộng phạm vi và quy định chi tiết hơn về định nghĩa các chủ thể được xem là người quản lý. Tuy vậy, khi so sánh với phạm vi định nghĩa về người quản lý công ty theo hệ thống thông luật (common law system) trên thế giới như Anh, Úc, Singapore, …, thì Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn chưa bao quát được hết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Hệ quả của việc này là trên thực tế vẫn có những người thực hiện chức năng, công việc như một người quản lý công ty thực thụ, nhưng họ lại không được xem là người quản lý một cách chính thức. Vì vậy, khi họ có hành vi sai phạm, gây thiệt hai cho công ty, thì pháp luật không có cơ sở để áp dụng trách nhiệm của người quản lý đối 9 với những chủ thể này nhằm buộc họ phải chịu các chế tài tương ứng. Kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về định nghĩa và phân loại người quản lý công ty: Theo kinh nghiệm lập pháp và thực thi pháp luật của các nước theo hệ thống thông luật (nơi có pháp luật công ty phát triển từ rất sớm), việc định nghĩa về người quản lý công ty có nhiều vấn đề khoa học pháp lý tiến bộ mà Việt Nam có thể tham khảo và học hỏi một cách có chọn lọc trong quá trình lập pháp, cụ thể như sau: Thứ nhất, các nước theo hệ thống thông luật (mô hình Anh – Mỹ) xác định rất rõ chức danh nào là người quản lý trong công ty và đồng thời nêu ra các nguyên tắc để xác định một người có phải là người quản lý công ty hay không.