Chương 1: Vai trò của trần thuật trong tác phẩm văn xuôi và đôi nét về nhà văn Đỗ Tiến Thụy Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Con chim joong bay từ A đến Z Chương 3: Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Con chim joong bay từ A đến Z 12 NỘI DUNG Chƣơng 1 VAI TRÒ CỦA TRẦN THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHÀ VĂN TIẾN THỤY 1. Vai trò của trần thuật trong tác phẩm văn xuôi 1.1 Khái niệm trần thuật và vai trò của trần thuật trong tác phẩm văn xuôi Theo Từ điển văn học: “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định. Vai trò của trần thuật rất lớn” [23, tr 305]. Tiếp cận nghệ thuật trần thuật chính là tiếp cận tác phẩm dưới góc độ thi pháp thể loại, vì “thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, chức năng của nó không chỉ là kể việc.
Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả. Hình thức chủ yếu của trần thuật là độc thoại, mặc dù nó có thể có tính chất đối thoại do hấp thu hoặc hướng tới ý thức nhân vật, hoặc người đọc” [23, tr 305]. Trần thuật gắn liền với toàn bộ tác phẩm, bao gồm công việc tổ chức cốt truyện, tổ chức điểm nhìn, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, v. trong một tác phẩm của mỗi nhà văn.
Nhà văn chỉ cần đầu tư cách tân một phương diện nào đó thì đã có thể thay đổi toàn bộ diện mạo của tác phẩm. Theo khảo sát của luận văn, chẳng hạn, trong nghệ thuật tổ chức côt truyện, các nhà văn trung đại thường tổ chức cốt truyện theo kiểu truyền thống theo kiểu chương hồi, mỗi chương sẽ gắn với một sự kiện cụ thể theo trình tự thời gian. Tổ chức cốt truyện chương hồi sẽ chi phối đến vị trí, điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện, chi phối không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn phái được tổ chức theo cốt truyện chương hồi.
Các tác giả tổ 13 chức cốt truyện theo trật tự tuyến tính, người kể chuyện phải ở ngôi kể thứ ba - kể lại sự việc đã qua, điểm nhìn trần thuật ít thay đổi, không có điểm nhìn di động và việc sử dụng nhiều ngôn ngữ Hán Việt cùng với hành văn biền ngẫu tạo nên giọng trang trọng, nho nhã ngay cả khi kể về những nhân vật phản diện. Văn chương hiện đại với lối kể linh hoạt, tự do phóng túng từ cốt truyện phi tuyến tính, ngôn ngữ dân chủ, nhân vật tính cách… khiến không gian truyện gần với đời thường hơn, tác phẩm mở được nhiều lớp và vì vậy cũng đa nghĩa hơn. Tác phẩm văn xuôi dù kết cấu theo trình tự nhân quả, hay liên tưởng, kể nhanh hay chậm, tuyến tính hay ngắt quãng, đều cho thấy dấu ấn của nghệ thuật trần thuật mà nhà văn sử dụng nhằm đưa những mối quan hệ chồng chéo về cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu. vào đúng vị trí, quỹ đạo của nó để tạo được hiệu quả cao nhất cho tác phẩm, giúp người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý định tác giả (mối quan hệ giữa câu chuyện và cốt truyện).
Vì vậy, trần thuật tạo nên phong cách, cá tính của mỗi nhà văn. Mối quan hệ giữa thái độ của người kể đối với các sự kiện được kể cũng như với người nghe, người kể ở “trong truyện” hay “ngoài truyện”, ở giữa người nghe gần hay cách xa họ lại tạo thành giọng điệu của trần thuật. kết cấu trần thuật hình thành với sự triển khai cái nhìn, đan cài, phối hợp, luân phiên các điểm nhìn, có điểm nhìn gần gũi với sự kiện, lại có điểm nhìn cách xa trong không gian và thời gian, có điểm nhìn ngoài, hoặc nhìn xuyên qua nội tâm nhân vật, lại có điểm nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hóa khác… Trong trần thuật, bên cạnh hình tượng người trần thuật được thể hiện qua các ngôi kể thì điểm nhìn trần thuật và giọng điệu trần thuật cũng góp phần quan trọng vào việc xây dựng nhân vật và tạo nên phong cách của nhà văn. Câu chuyện, sự việc… được kể trong một thời gian, không gian và dưới các góc nhìn khác nhau của người kể chuyện tạo ra điểm nhìn nghệ thuật trong truyện và “khoảng cách, góc độ của người kể đối với cốt truyện tạo thành cái nhìn… Bố cục của trần thuật hình thành với sự triển khai cái nhìn, đan cài, phối hợp, luân phiên các điểm nhìn.
Có điểm nhìn gần gũi với sự 14 kiện, lại có điểm nhìn cách xa trong không gian và thời gian. Có điểm nhìn ngoài hoặc nhìn xuyên qua nội tâm nhân vật…” [23, tr 364 – tr 365]. Đổi mới nghệ thuật trần thuật từ điểm nhìn đến người kể chuyện được xem là một trong những vấn đề quan trọng của văn xuôi thời kỳ sau 1975. Song song với nó là sự xuất hiện hình thức nhiều người kể chuyện.
Chúng làm mới hình thức kể, gia tăng tính đa dạng nhiều chiều cho bức tranh hiện thực cuộc sống. Đôi nét về nhà văn Đỗ Tiến Thụy 1. Từ người lính trở thành nhà văn Nhà văn Đỗ Tiến Thụy sinh ngày 12/10/1970, quê ở làng Bùi, xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, đông con.
Trong cuộc trò chuyện với phóng viên báo Vnxpess, khi phóng viên hỏi: “Vì sao anh trở thành nhà văn?” Đỗ Tiến Thụy trả lời: “… Đói! Vào những năm 80, nhà tôi quá đông, tới 16 người, toàn người già và trẻ con, vậy mà mỗi ngày chỉ được ăn hai bữa khoai hoặc sắn. Rồi đến khoai sắn cũng hết, phải ăn tới củ chuối, thân cây đu đủ… Cái đói ám ảnh tôi tới mức sau này, vào những năm đầu đổi mới, mỗi khi có điều kiện ngồi trước một mâm cỗ ngon là tôi lại ứa nước mắt vì nhớ tới bà tôi, người đã nhiều lần nhường cơm cho các cháu ăn để có sức cầm hơi mà đi học”. Khi ấy cậu bé Thụy từng tự nhủ “khi nào có tiền, bà tôi muốn ăn cái gì tôi cũng sẽ tìm bằng được để bà ăn. Nhưng bà tôi đã mất trước khi cuộc sống của chúng tôi khấm khá.
Chính những lúc ấy, ký ức ùa về giục giã tôi phải viết để ghi lại một thời khốn khó” [ 42]. Cũng vì nghèo mà học hết phổ thông xung phong nhập ngũ ngay với mục đích “tự cứu đói mình” và để “bớt một miệng ăn trong gia đình, bởi nhà nghèo quá”. Hóa ra, khi văn chương đã “nhập” vào người, là một tố chất “trời cho” thì ở đâu, làm gì thì đọt mầm ấy cũng sẽ “trồi ra” khoe sắc dưới ánh mặt trời. 15 Hóa ra chính bà của tác giả không chỉ là là cả thế giới văn chương tuổi thơ mà còn là thầy đầu tiên dạy sáng tạo văn chương cho tác giả.
Hãy nghe tâm sự này: “Từ ngày bé tí tôi đã được bà nội kể chuyện hàng đêm. Ban đầu là chuyện cổ tích với những hình ảnh thần tiên, và sau đó là những tích truyện thấm đẫm nhân tình Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Quan âm Thị Kính. Những câu chuyện cổ tích của bà dẫn dắt cậu bé vào con đường ăn chương, hơn thế, còn dạy cậu “kỹ năng” sáng tạo: “Những câu chuyện có cốt, nhưng mỗi lần kể bà tôi lại có cấu trúc khác. Kiểu kể chuyện “mở” này có chỗ cho vị “thính giả tí hon” là tôi đồng sáng tạo, tương tác trong mỗi tác phẩm.
Thi thoảng được nhắc còn chi tiết này, câu thoại kia. và được bà thừa nhận “à à bà quên” là tôi rất khoái, thấy mình lâng lâng bay bổng trong bầu trời tưởng tượng vô bờ bến. Có thể nói, giường ngủ của bà nội chính là cái nôi nuôi dưỡng tính mơ mộng của tôi” [84]. Thời đi học, những bài văn của cậu học trò Đỗ Tiến Thụy có biểu đồ hình sin: “Bảng điểm văn thời phổ thông của tôi có biểu đồ hình sin.
Ở cái biểu đồ ấy mỗi đường lên hay xuống gắn với một thầy cô giáo dạy văn cụ thể” [84]. Hóa ra, những sáng tạo theo cách của bà không phải lúc nào cũng thành công ở cái thời “văn mẫu” được coi là phương pháp! Vì vậy, cũng từng tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện môn văn, nhưng theo cách nói của ông là “trượt ngay từ vòng gửi xe”! Tốt nghiệp phổ thông trung học, chàng trai ấy ôm ấp ước mơ trở thành họa sĩ. Không được rèn luyện tí nào về năng khiếu nên trượt là phải, những trượt với điểm số sát nút. “Mộng họa sĩ tan tành, tôi đăng kí nhập ngũ.
Thế rồi 10 năm sống nơi rừng xanh núi thẳm, làm đủ thứ công việc, gặp nhiều cảnh sắc, tiếp xúc với nhiều dạng người, đến một ngày trong tôi có cái gì đó cựa quậy. Và cái mầm mơ mộng, trí tưởng tượng được ươm từ thời ấu thơ ấm áp trong lòng bà nội đã bừng trỗi. Tôi đã viết và viết. Rồi trở thành tác giả” [84].
Anh lính trung đoàn bộ E66, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, Binh đoàn Tây Nguyên (1988-2002), chạy vào lính để đỡ một miệng ăn cho gia đình vào 16 đúng thời điểm đất nước trong cơn khủng hoảng kinh tế nên cuộc sống của người lính cũng lao đao vì “miếng ăn”. Khẩu phần ăn của lính lúc đó bữa sáng là một hai khúc sắn luộc, rắc một ít gọi - là - muối - vừng vì vừng chỉ có tính chất đóng vai trò tạo hương. Hai bữa chính trưa chiều mỗi người lính được thêm được hai lát thịt mỏng nếu lắp vào mắt có thể thay kính nhìn xuyên thấu trời xanh, vài cọng rau muống luộc vàng quạch và nồi canh lõng bõng mang tên “toàn quốc”. Cơm thì gạo cũ mốc xì, chậu gang mâm sáu, nếu chia đều thì mỗi chú được ba bát B52 lưng lửng”.
Ơ, khổ thì khổ vậy mà cánh lính ấy ngoài giờ đi rừng chặt củi, đóng gạch vẫn nghêu ngao đàn ghi ta phập phùng. Tuổi trẻ mà! Hậu chiến rách rưới như nhau cả, đời vẫn tươi. Nhưng chàng lính mảnh khảnh thư sinh lại có bằng cấp 3 nên được cử làm nhân viên tài chính, rồi lại được đào tạo kế toán, tay hòm chìa khóa cho một trung đoàn chủ lực, giữ nguồn ngân sách của hơn 1000 quân.