phần mở đầu ( 10 trang), nội dung (72 trang), kết luận (02 trang). Phần nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung để nghiên cứu đề tài (21 trang) Chƣơng 2: Đặc điểm nghệ thuật tạo hình tranh in trong TLMTTQ năm 2010 và 2015 (38 trang) Chuơng 3: Bàn luận về nghệ thuật tạo hình tranh in trong TLMTTQ năm 2010 và 2015 (13 trang) Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, phần phụ lục gồm bảng số liệu và ảnh minh họa. 13 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm “nghệ thuật tạo hình tranh in” 1.
Khái niệm “tranh in” Trong nghệ thuật đồ họa có chia thành hai dạng là đồ họa tạo hình và đồ họa ứng dụng, cả hai loại này đều tạo ra sản phẩm qua quá trình in, song “tranh in” đƣợc đề cập ở đây là tranh in của đồ họa tạo hình. Khái niệm “tranh in” đƣợc hoàn thiện dần dần, từ quá trình hình thành và phát triển qua nhiều thế kỉ của thể loại tranh in trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tên gọi cũng nhƣ quan niệm về tranh in cũng đã có sự khác nhau ở nhiều quốc gia và thay đổi theo thời gian. Ngay cả trên thế giới nhƣ ở Châu Âu, Nhật bản là những nơi có nghệ thuật tranh in sớm phát triển, thì trƣớc kia cũng không đƣa ra các khái niệm rõ ràng về thể loại tranh in để so sánh với thể loại tranh khác trong nghệ thuật đồ họa tạo hình.
Tuy nhiên các thuật ngữ để gọi tên các thể loại tranh của đồ họa tranh in lại đƣợc sử dụng nhiều nhƣ tranh in đá, tranh khắc kẽm, tranh khắc gỗ hay nhƣ tranh in khắc, tranh khắc in, hoặc chỉ gọi chung là đồ họa ấn loát hay tranh đồ họa. Từ trƣớc đến nay có nhiều quan niệm về tranh in không thống nhất là do cách nhìn nhận của từng ngƣời, cũng nhƣ trong quá trình phát triển lại xuất hiện thêm các hình thức, kĩ thuật mới. Tuy nhiên, các quan niệm, khái niệm trƣớc đã chỉ ra đƣợc đặc điểm cơ bản, hoặc một số yếu tố tiêu biểu cho từng loại tranh in. Cho đến giai đoạn gần đây mới có những họa sĩ, nhà nghiên cứu về nghệ thuật đƣa ra các khái niệm một cách đầy đủ, đặc trƣng cho thể loại tranh in.
PGS Nguyễn Trân cho rằng “ Đồ họa ấn loát nhiều khi không cần đến giá vẽ, chủ yếu là thể hiện hình vẽ ngay trên các bản gỗ, trên các mảnh kim loại, trên cao su hoặc trên đá cẩm thạch đã đƣợc đẽo, gọt, mài giũa trơn tru để từ đó cho in lên giấy hàng loạt phiên bản giống nhau” [26,tr. Trong từ 14 điển Mỹ thuật phổ thông có viết “Tranh in là một dạng tranh đồ họa, trong đó ngƣời ta dùng kĩ thuật in ấn để thể hiện tác phẩm” [11,tr. Điều đó khảng định tranh in thuộc thể loại đồ họa tạo hình, song với tranh in, để tác phẩm hoàn thành phải trải qua hai giai đoạn cơ bản và khác với các quy trình sáng tác tác phẩm tạo hình khác, đầu tiên là quá trình chế bản do sự sáng tạo ngƣời họa sĩ khi vẽ, khắc, vạch, (hay ăn mòn hóa chất). để tạo nên các hình tƣợng nghệ thuật trên bản khắc.
Phần lớn cho các phƣơng pháp in thì đây là phần ”cốt” của tác phẩm, nó nhƣ là bức tranh ngƣợc tƣơng đối hoàn chỉnh, nhƣng có khi chỉ là một phần của bức tranh với một số phƣơng pháp khắc và in khác nhau. Giai đoạn hai là quá trình in tranh bằng phƣơng pháp thủ công hoặc có sử dụng máy móc, tuy nhiên trong khi in tranh thì họa sĩ vẫn có thể tìm kiếm các hiệu quả nghệ thuật của màu sắc, đƣờng nét, chất cảm. cho tác phẩm bằng các kĩ thuật khác nhau. Do đó, kết quả nghệ thuật của bức tranh cũng phụ thuộc nhiều vào quá trình in, đôi khi có thể tạo ra các sản phẩm độc đáo, và có những yếu tố mang lại hiệu quả bất ngờ, mà ngay ngƣời nghệ sĩ cũng chƣa dự tính hết đƣợc.
Kĩ thuật in ngày nay đã làm cho tranh in không những phong phú về chất liệu, mà còn có ƣu điểm tạo ra nhiều tác phẩm (trừ tranh in độc bản) không giống nhau hoàn toàn trên cùng một bản in. Hai quá trình này nhìn qua thì riêng rẽ xong nó có mối liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Nó là một thể thống nhất, nhƣ hai mặt của một tờ giấy không thể tách rời nhau. Nguyễn Nghĩa Phƣơng thì “tranh in là một thể loại của nghệ thuật tạo hình bao gồm các tác phẩm đƣợc họa sỹ sáng tác bằng ngôn ngữ đồ họa thông qua quá trình chế bản và in ấn trên các vật liệu khác nhau, chủ yếu là giấy, đôi khi là vải hoặc nilon, phim nhựa.
Đến nay thì đây là khái niệm đƣợc phổ biến một cách rộng rãi trên các kênh về nghệ thuật tạo hình trong nƣớc, đầy đủ về đặc điểm, bản chất và ý nghĩa của “tranh 15 in”. Vì vậy tôi lựa chọn khái niệm trên để làm cơ sở cho việc nghiên cứu trong đề tài này. Xác định khái niệm “nghệ thuật tạo hình tranh in” Tất cả các tác phẩm tạo hình đều có ngôn ngữ biểu hiện khác nhau tùy vào đặc điểm riêng của từng loại hình. Ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình trong một tác phẩm sẽ tạo nên hình tƣợng, giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.
Theo từ điển Thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông “Trong nghệ thuật mỗi chuyên ngành đều có ngôn ngữ riêng để biểu đạt loại hình của mình. Đối với nghệ thuật tạo hình, tất cả những gì tạo nên tác phẩm và biểu đạt nên đẹp hay xấu trong tác phẩm hội họa, điêu khắc, đồ họa, trang trí.đƣợc gọi là ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình” [11,tr73]. Tranh in thuộc về thể loại nghệ thuật đồ họa tạo hình, nên ngôn ngữ tạo hình của nó là ngôn ngữ tạo hình của nghệ thuật đồ họa, nhƣng nó vẫn có những yếu tố riêng trong ngôn ngữ tạo hình. Trong một tác phẩm bao giờ cũng tồn tại song song hai mặt hình thức và nội dung, đây là các thành tố không thể thiếu đƣợc với bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào.
Nội dung tác phẩm đƣợc biểu hiện thông qua hình thức thể hiện, hình thức của tác phẩm là yếu tố chuyển tải nội dung đến ngƣời xem nột cách nghệ thuật nhất. Ngƣời ta không thể xem tranh qua thính giác đƣợc, cũng nhƣ không thể công nhận một bức tranh là đẹp nhƣng lại không biết tác giả vẽ gì. Nhƣ vậy, ngôn ngữ tạo hình mà ngƣời xem nhận biết đƣợc thông qua thị giác trên bề mặt tác phẩm tranh in đƣợc coi là “nghệ thuật tạo hình tranh in”. Có thể thấy ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình trong tranh in đó là các yếu tố cơ bản sau: Trƣớc tiên phải là nội dung của tác phẩm, sau đó là chấm, đƣờng nét; hình mảng; không gian; chất cảm.
Đây là những yếu tố ngôn ngữ biểu hiện chính trong “nghệ thuật tạo hình tranh in”. Ngoài ra còn có chất liệu, kĩ thuật, màu sắc, phƣơng pháp in. cũng góp phần làm nên giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. 16 Nội dung là chủ đề của tác phẩm đƣợc tác giả gửi đến ngƣời xem thông qua hình thức thể hiện của tranh in.
Nội dung tác phẩm thƣờng phản ánh các cảnh vật, sinh hoạt trong cuộc sống của con ngƣời, có thể là trong quá khứ, hiện tại hoặc tƣơng lai. Nó đƣợc biểu hiện qua phƣơng pháp sử dụng ngôn ngữ tạo hình, cách tiếp cận vấn đề và xúc cảm của mỗi tác giả. Chấm và đƣờng nét là yếu tố tiêu biểu cho ngôn ngữ nghệ thuật đồ họa nói chung và tranh in nói riêng, không có thể loại nào khai thác triệt để các ƣu điểm, đặc tính nghệ thuật tạo hình của chấm và đƣờng nét nhƣ thể loại đồ họa nói chung và tranh in nói riêng. “Chấm, điểm là đơn vị nhỏ nhất của thị giác.
Xét về mặt lý luận, quỹ tích của điểm tạo thành đƣờng. Trong “nghệ thuật tạo hình tranh in” các chấm thƣờng kết hợp với nhau theo một tổ hợp nào đó với kích thƣớc to nhỏ hay mật độ sự thƣa dày khác nhau để tạo ra hình thể; nếu tập hợp của nhiều điểm liên tục với nhau sẽ tạo ra đƣờng nét, có nét thẳng, cong, gấp khúc, với độ to nhỏ, ngắn dài. Còn trong từ điển Thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông “Đƣờng hiện lên ở trong tranh rõ ràng có thể đứt đoạn hoặc liên tục, dùng để phác hình, viền hình, xác định hình” [11,tr.73], đƣờng và nét có tính tƣơng đồng về bản chất, nên thông thƣờng hay sử dụng từ ghép “đƣờng nét” để diễn tả. Trong “nghệ thuật tạo hình tranh in” chấm và đƣờng nét còn đƣợc sử dụng theo nhiều cách thức khác nữa nhƣ tập hợp với nhau tạo nên hình mảng, dùng để tạo ra đậm nhạt, không gian và có thể diễn tả chất liệu, cảm xúc.
“Hình mảng” là từ ghép thƣờng đi liền với nhau, nó thƣờng thể diễn đạt về hình dáng, hình thể, hình ảnh., trong nghệ thuật tạo hình, nó là yếu tố cơ bản đƣợc sử dụng cho bố cục tranh. “Trong mỹ thuật, thuật ngữ “hình dáng”, “hình thể” đƣợc dùng để chỉ một vật, đƣờng nét hay mảng màu tƣơng ứng với dáng vẻ của vật đó trên tranh hoặc tƣợng” [11,tr. Hình mảng tạo bởi đƣờng nét khép kín, là giới hạn của một diện tích trên mặt phẳng có đặc điểm vuông, tròn, méo, to nhỏ, dài ngắn., hình thƣờng là những gì cụ thể mà họa sĩ 17 muốn diễn tả, có đặc điểm riêng mà ngƣời xem nhận ra tên gọi của nó, mảng thƣờng không chỉ rõ ra đối tƣợng nhất định. Tuy nhiên nhiều khi ở trong tác phẩm, nó đã đƣợc họa sỹ thay đổi khác với thực tế, hoặc hình chỉ là diện tích, vị trí trên tranh, nhằm biểu thị một ý nghĩa nào đó.
Từ điển Thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông có viết về “màu sắc” nhƣ sau: “ngƣời ta phân biệt màu là những màu nguyên chất, chƣa có sự biến đổi do ánh sáng hay cách pha trộn lám khác đi, ví dụ nhƣ màu gốc: đỏ, cô- ban, vàng; còn sắc là những màu sự biến đổi theo ánh sáng hoặc đã pha trộn thành những sắc thái khác nhau, ví dụ: sắc hồng do đỏ pha với trắng. Màu sắc dùng trong sáng tác tranh đƣợc làm từ hóa chất, khoáng chất và động thực vật, khi các họa sỹ sử dụng thƣờng pha trộn với nhau để tạo ra các sắc thái màu theo ý chủ quan của mình. Màu sắc trong tranh có thể phản ánh sự vật hiện tƣợng theo thực tế, cũng có thể mang tính trang trí, biểu hiện tƣợng trƣng. miễn sao đạt hiệu quả nghệ thuật tốt nhất cho tác phẩm.