CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật tạo hình các tháp cổ người của Lào vùng Tây Bắc Việt Nam 1. Khái niệm nghệ thuật tạo hình Từ điển Từ vực mỹ học của Su-ri-ô (Souriau) - 1990 đã định nghĩa “Nghệ thuật tạo hình đưa tới thị giác những tác phẩm có không gian hai hoặc ba chiều”. Ví dụ như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa, nghệ thuật trang trí ứng dụng.
Ở nhiều nơi trên thế giới người ta cho rằng thuật ngữ nghệ thuật thị giác và nghệ thuật tạo hình đồng nghĩa với mỹ thuật. [17] Từ các diễn giải trên có thể hiểu nghệ thuật tạo hình như sau: Nghệ thuật tạo hình (mỹ thuật) gồm các loại hình hội họa, điêu khắc, đồ họa. Ngôn ngữ nhận biết, cảm nhận hình thức, nội dung của tác phẩm thông qua thị giác là: chủ đề, không gian, bố cục, hình khối, đường nét, mầu sắc, chất liệu và kỹ thuật thể hiện. Các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam là một công trình kiến trúc nghệ thuật do vậy thuật ngữ nghệ thuật tạo hình sử dụng trong nghiên cứu đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu: không gian, cảnh quan, nghệ thuật tạo khối, phù điêu họa tiết, màu sắc và kỹ thuật thể hiện trên các tháp.
Khái niệm tháp và tháp cổ Phật giáo Khái niệm tháp Tháp là một công trình kiến trúc có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: hình trụ đứng, dạng hình nón và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, làm biểu tượng, giúp âm thanh phát đi xa hoặc phát sóng ra xa. [27] 12 Tháp là một khái niệm rộng để chỉ một loại công trình do con người xây dựng nhằm phục vụ các mục đích khác nhau. Tháp có nhiều loại, nhiều hình dạng, nhiều chức năng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số tháp có niên đại xây dựng trước thế kỷ XX ở vùng Tây Bắc Việt Nam và một số tháp Phật giáo ở Lào, các tháp này phục vụ mục đích tôn giáo (Phật giáo) và tín ngưỡng dân gian trong một phạm vi cộng đồng dân cư nhất định.
Khái niệm tháp cổ Phật giáo “Từ “tháp” là dạng từ Hán Việt của từ Ấn Độ cổ “stupa”, trong nhiều ngôn ngữ Ấn Độ và khi du nhập vào nhiều tiếng nói khác nhau, trước sau chỉ một loại mộ chôn người cao quý hay chôn xá lị Phật, táng trên đồi gò hoặc xây đắp thành đồi gò thành công trình kiến trúc cao. Từ tháp vào tiếng ta, trước cũng chỉ loại mộ có kiến trúc cao như vậy, sau được dùng rộng ra không chỉ riêng kiến trúc mộ cao nữa, mà còn chỉ kiến trúc cao khác mang tính linh thiên như mộ: kiến trúc cao nơi ở của thần, kiến trúc cao nơi thể hiện Phật và thờ Phật”. [11 - tr5] Tháp Phật là nơi chứa Thánh tích, di vật của Đức Thích ca Mâu ni hoặc các vị Tổ sư có công đức lớn. Theo truyền thuyết Phật giáo, tháp là sự kết hợp ba vật bất ly thân của một vị tu sĩ Phật giáo, đó là Tam tạng kinh, bình bát và cây tích trượng.
Tháp Phật nguyên thủy có hình hài như gò mộ táng xa xưa của người Ấn Độ. Sau khi Đức Phật Thích ca nhập diệt, kiểu gò mộ này được dung hợp vào Phật giáo như là nơi chứa thánh tích của Phật và chư tôn giả, đồng thời được xem như phương tiện nhắc nhở đến sự giác ngộ của Ngài và là biểu tượng của nhục thân cũng như lời dạy của Ngài. Bảo tháp Sanchi (H46) còn tồn tại khá hoàn chỉnh hiện nay ở Ấn Độ là một ví dụ. Đó là một kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn bằng đá.
Trong tháp có những hộp đựng Xá lợi, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay giữa 13 bán cầu hoặc trên đỉnh. Trong một thời gian dài sau đó, kiến trúc tháp trải qua quá trình biến đổi. Xuất phát từ Gandhara (Tây Bắc Ấn Độ), tháp nền hình tròn bằng phẳng được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn. Phần bán cầu được kéo dài ra, nhưng so với nền ống thì nhỏ hơn trước.
Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia thành nhiều tầng, biến thành hình nón. Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Tây lịch, phần gốc hình ống lại biến thành hình vuông và trở nên phổ biến tại vùng Nam Á. Các Chorten nơi đây hình dáng gần giống với các bảo tháp có phong cách Bắc Ấn. Hình dáng có ba phần chủ yếu, phần đáy dưới cũng rộng, phần thân chính hình tròn vươn lên cao, phần cuối cùng gồm có một cột với các chồng đĩa tròn hoặc những chiếc dù có kích thước nhỏ dần.
Với ý nghĩa truyền thống của Phật giáo, các Chorten Tây Tạng bên cạnh việc được coi là cái cốt tủy của chính Đức Phật, còn có ý nghĩa về vũ trụ, đặc biệt là phần đỉnh. Đỉnh chorten được cấu tạo bởi năm hình thể kỷ hà biểu thị cho ngũ hành. Phần đế vuông biểu thị cho sắc, trong khi vòng tròn bên trên biểu thị cho thức. Tiếp đến, hình tam giác tượng trưng cho tinh thần và nửa vòng tròn biểu thị cho Phật pháp.
Trên cùng của kiến trúc là một viên bảo châu tượng trưng cho nguyên lý tối thượng của Phật giáo. Tháp Phật giáo ở Trung Hoa có phong cách lầu các (H46). Theo quan niệm của người Trung Hoa, tháp là nơi chôn cất Xá lợi Phật, thiêng liêng và thần thánh, phải dùng hình thức kiến trúc cao quý để tôn trí. Hình thức tháp có ảnh hưởng từ tháp Phật giáo của Ấn Độ nhưng được cải biến thành một kiểu tháp khác, tháp thường chia thành ba phần: Địa cung nền tháp, thân tháp và tháp sát.
Ở Trung Hoa, tháp Phật có nhiều loại hình và kết cấu. Nếu chia theo hình dáng, có tháp hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, hình tròn… Nếu chia theo hình khối sẽ có tháp đơn tầng, tháp 3 tầng, 5 tầng, 7 tầng, 9 14 tầng. Nếu chia theo vật liệu kiến trúc thì có tháp gỗ, tháp gạch, tháp sắt, tháp lưu ly… Tháp Phật giáo không chỉ còn là nơi an trí Xá lợi Phật mà nó đã chuyển tải được những ý nghĩa nhân sinh của Phật giáo qua các chi tiết kiến trúc, họa tiết trang trí trên ngôi tháp. [27] Ở Việt Nam tháp được nhiều nhà nghiên cứu và phân loại.
Những tháp cổ hiện tại thuộc hai dòng lớn: tháp Phật giáo và tháp Bà La Môn giáo. Chúng đều có cội nguồn ở Ấn Độ, đều là những công trình kiến trúc cao tầng dùng chứa đựng thần linh dưới dạng này hay dạng khác. Tháp Phật giáo chủ yếu được xây dựng ở miền Bắc (H47). Tháp Phật giáo có hai nhóm: tháp mộ và tháp chùa.
Tháp mộ có thể là tháp của một vị Phật hay cao tăng cụ thể, cũng có thể là tháp biểu tượng Phật tức coi như mộ Phật. Tháp có 5 loại: tháp hoa sen, tháp Tu Di, Tứ môn tháp, tháp đa giác, Tháp - Thượng điện. Tháp hoa sen là kiến trúc mô phỏng một đóa sen chứ không phải là tháp mộ, nó chứa đựng biểu tượng Phật như một mộ Phật. Tháp Tu Di là tháp có hình tu - di - tọa, hình thức kiến trúc có ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ tháp Trung Quốc, tháp có nhiều tầng cao, là hình ảnh tượng trưng ngọn núi thiêng Mê Du ở Ấn Độ nơi Phật Thích Ca Mầu Ni tịnh thiền đạt đến giác ngộ.
Tháp tứ môn có nhiều tầng, có bốn cửa tương ứng với bốn diện của tháp. Tháp đa giác có bình đồ đa giác (bát giác, lục giác) ảnh hưởng từ kiến trúc tháp của Trung Quốc. Tháp - Thượng điện có nguồn gốc là tháp trong kiến trúc - hang, nhà, không có tháp ngoài trời, không mang tính mộ táng mà mang tính chất đối tượng thờ cúng, tháp là biểu tượng về Phật. [11] “Người Lào gọi tháp là “thạt” hay “chê đi”.
Tháp có công năng như sau: có loại tháp thờ Phật, có loại tháp là nơi chứa tro thiêu của nhà sư trụ trì trong chùa, có tháp chứa tro thiêu của vua và hoàng hậu các triều đại. Một số tháp trước kia là đền thờ của Ấn Độ giáo sau chuyển thành tháp thờ Phật”. 15 Tháp Phật giáo ở Lào có phong cách kiến trúc của tháp Phật giáo Tiểu thừa, thường có đồ án mặt bằng hình vuông, hình lục giác, bát giác (H48,49,50). Tháp có nhiều hình dạng, chức năng khác nhau và thường được xây dựng gắn liền với quần thể kiến trúc của chùa.
Qua tìm hiểu nghiên cứu bước đầu có thể chia tháp Lào thành một số loại theo chức năng tôn giáo và tín ngưỡng: tháp thờ Xá lị Phật, tháp ghi dấu ấn phật pháp, tháp biểu tượng đức Phật, tháp thờ di cốt vua - hoàng hậu, tháp thờ tro cốt các vị sư, tháp thờ người có công sáng lập bản mường, tháp ghi nhận công đức của nhân dân và phật tử. Tóm lại, tháp Phật giáo là công trình kiến trúc nghệ thuật thường phục vụ nghi lễ, chuyển tải giáo lý của Phật giáo. Tháp có nhiều loại, nhiều công năng và ý nghĩa khác nhau tùy theo quan niệm, giáo lý của từng hệ phái Phật giáo. Nếu phân loại theo chức năng của tháp Phật giáo Lào thì hệ thống tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam thuộc loại tháp thờ Phật, tháp là biểu tượng của Phật.
Khái lược về Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc chùa, tháp Lào 1. Khái lược về Phật giáo Lào Trước khi Ấn Độ giáo và Phật giáo du nhập vào Lào, ở đây đã tồn tại tín ngưỡng dân gian về thờ “Phi”. Người Lào xưa tin rằng có rất nhiều vị thần. Thần linh mà người Lào cho là có vị trí cao nhất là Phi Thẻn.
Theo nhiều nguồn sử liệu còn để lại cho thấy, vào khoảng thế kỷ thứ VIII, những người Môn đầu tiên di cư xuống vùng Tây Lào đã truyền bá Phật giáo cho những cư dân tại đây. Những người Môn này đã mang theo rất nhiều kinh Phật, tượng Phật và những tu sỹ am hiểu Phật giáo từ Srilanka đến truyền bá Phật pháp. Đến thế kỷ XIII khi tộc người Lào Thay chinh phục xong toàn bộ phần đất Bắc Lào họ đã tiếp thu đạo Phật theo phái Tiểu thừa và phát triển rộng khắp cả vùng Bắc và Trung Lào. Trong khi đó, từ phía Nam, 16 Phật giáo Lào cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Khmer.
Dưới thời của đế chế Ăngkor, thống trị từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, Phật giáo Đại thừa cũng đã được truyền bá vào Lào.