Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT, NHÂN CÁCH VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NGHỆ THUẬT ĐẾN NHÂN CÁCH 1. Lý luận về nghệ thuật 1. Khái niệm về nghệ thuật Nghệ thuật ra đời như là một tất yếu của sự đam mê cái đẹp của con người trước thế giới hiện thực. Dựa vào nguồn gốc hình thành các loại hình nghệ thuật, người ta đã có nhiều cách hiểu khác nhau về nghệ thuật.
Quan niệm thứ nhất, nghệ thuật là sự khéo léo, đi kèm với tài nghệ nào đó của con người. Quan niệm thứ hai, nghệ thuật là phương tiện dùng những cách thức nhất định để biểu đạt và lưu giữ tình cảm, suy nghĩ của con người. Quan niệm thứ ba, nghệ thuật là một hình thái ý thức, ra đời từ lao động và chiến đấu, từ các nhu cầu miêu tả, tín ngưỡng và rút ra bài học về cuộc sống. Quan điểm thứ tư, nghệ thuật là khái niệm dùng để chỉ hoạt động sáng tác theo quy luật của cái đẹp.
Xét về nguồn gốc hình thành mà nói, nghệ thuật ra đời sau xã hội loài người, hay nói khác hơn, tác phẩm nghệ thuật do con người sáng tạo ra. Thứ hai, không một tác phẩm nghệ thuật nào không gắn liền với cuộc sống con người, tác phẩm nghệ thuật luôn ẩn chứa tâm tư, tình cảm của người nghệ sĩ. Thứ ba, tác phẩm nghệ thuật luôn phản ánh một sự vật, hiện tượng, phản ánh một vấn đề nào đó trong xã hội. Tóm lại, nghệ thuật là hoạt động phản ánh thế giới theo quy luật của cái đẹp của con người bằng hình tượng thông qua những phương thức nhất định.
Với ý nghĩa này, sáng tạo nghệ thuật không phải là hoạt động phản ánh trực tiếp, mà nó thông qua người nghệ sĩ (người sáng tác), mang tính chất chủ quan, cảm tính. Đây là quá trình phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan, mức độ phản ánh, nội dung và hình thức phản ánh phụ thuộc vào người sáng tác. Bản chất của nghệ thuật 1. Nghệ thuật là giá trị xã hội được đánh giá theo quy luật tình cảm Đời sống tình cảm của con người vô cùng phong phú và đa dạng.
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ. Những giá trị của nghệ thuật được sáng tạo và hưởng thụ thông qua những quy luật của tình cảm. Đó là các quy luật: quy luật thích ứng, quy luật lây lan, quy luật di chuyển, quy luật tương phản, quy luật pha trộn và quy luật về sự hình thành tình cảm. Quy luật thích ứng là một xúc cảm, tình cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách không thay đổi thì cuối cùng sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống.
Đó là hiện tượng “chai sạn” tình cảm. Khi xem một bộ phim mới, chúng ta rất hào hứng và cảm thấy vui thích trướng những ý tưởng nghệ thuật, hình thức thể hiện, âm thanh, ánh sáng của nó nhưng khi ta xem đi xem lại bộ phim ấy nhiều lần, cảm xúc vui thích ấy không còn nữa, thậm chí rơi vào buồn chán. Ở đây, những giá trị xã hội của bộ phim không phải bị mất đi, nó vẫn vậy, nhưng sự thích ứng của tình cảm làm cho con người đã quen với nó, vì thế nó không còn gây tác động mạnh mẽ đến cảm nhận con người nữa. Khi hiện tượng thích ứng đối với một giá trị nghệ thuật ở con người xuất hiện thì có hai trường hợp xảy đến: Một là, giá trị ấy đủ sức hấp dẫn cá nhân thì nó sẽ thâm nhập vào nhân cách cá nhân ấy góp phần nâng cao năng lực của cá nhân; hai là, nếu nó không đủ sức hấp dẫn thậm chí đối lập hệ giá trị của cá nhân nó sẽ nhanh chóng bị cá nhân loại ra khỏi đời sống thẩm mỹ của mình, nó góp phần giúp cá nhân phân định rõ cái đối lập với nhu cầu thẩm mỹ của mình và qua đó củng cố lý tưởng thẩm mỹ cá nhân.
Có thể nói, thông qua quy luật thích ứng của tình cảm, mọi giá trị xã hội của nghệ thuật đều có lợi cho nhân cách. Quy luật lây lan là xúc cảm, tình cảm của chủ thể này có thể truyền, lây sang chủ thể khác. Sự biểu hiện của quy luật này có thể thấy ở phạm vi ngoại diên chủ thể. Khi một chủ thể đã yêu thích một đối tượng thì những chủ thể người xung quanh do bị ảnh hưởng mà cũng yêu thích đối tượng ấy.
Ví dụ như Hồ Chí Minh yêu thích văn hóa xã hội chủ nghĩa vì thế mà đa số người Việt Nam cũng yêu thích văn hóa xã hội chủ nghĩa. Kỳ 10 thực, đa số người dân có thể chưa đọc truyện Kiều nhưng lại rất yêu mến Thúy Kiều là bởi vì họ nghe kể về Kiều, tình cảm của người kể đã lan truyền đến họ. Quy luật tương phản ám chỉ rằng trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy yếu của một tình cảm này có thể làm giảm hoặc tăng của một hiện tượng khác diễn ra đồng thời. Người càng yêu nước thì càng thù giặc ngoại xâm.
Với quy luật tương phản như thế, khi nghệ thuật đẩy cái ác lên cao trào, con người sẽ càng hướng về cái thiện; nghệ thuật càng tôn vinh cái đẹp, con người sẽ càng xa rời cái xấu. Quy luật tương phản giúp con người hướng đến những giá trị xã hội của nghệ thuật đó là chân – thiện – mỹ. Quy luật di chuyển là hiện tượng tình cảm, cảm xúc của chủ thể có thể di chuyển từ khách thể này sang khách thể khác. Khi một khách thể được yêu thích thì tất cả những khách thể có liên quan cũng sẽ được yêu thích theo.
Ví dụ như một người đã yêu thích chủ nghĩa lãng mạn thì ít nhiều đều yêu thích những sản phẩm nghệ thuật chứa đựng tính mộng tưởng và đề cao sự tự do. Quy luật di chuyển giúp con người tiếp nhận những giá trị xã hội của nghệ thuật một cách rất chủ động và toàn vẹn. Quy luật pha trộn là sự cùng tồn tại của những thái độ khác nhau về đối tượng bên trong tình cảm của chủ thể. Trong đời sống tình cảm của con người, nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau, chúng pha trộn vào nhau.
Đứng trước một khách thể thẩm mỹ con người có thể vừa cảm thấy hài lòng nhưng cũng đồng thời khó chịu với những khiếm khuyết của nó. Nhân vật Đường Tăng vừa làm ta khinh khi ngài phàm tục tin lời Bạch Cốt Tinh đuổi Tôn Ngộ Không đi nhưng đồng thời cũng kính phục ý chí và lòng nhân từ của ngài. Quy luật về sự hình thành tình cảm thể hiện rằng xúc cảm là cơ sở của tình cảm, tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại, chúng được động hình hóa, tổng hợp hóa và khái quát hóa mà thành. Động hình hóa là khả năng làm sống lại một phản xạ thẩm mỹ hoặc một chuỗi phản xạ thẩm mỹ đã được hình thành từ trước.
Tổng hợp hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thuộc tính thẩm mỹ đã được tách rồi nhờ sự phân 11 tích thành một chỉnh thể thẩm mỹ. Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều thuộc tính thẩm mỹ của những đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những cái chung nhất định. Quá trình hoạt động nghệ thuật luôn chất chứa những tình cảm của người nghệ sĩ, đó là tình cảm thẩm mỹ. Tình cảm thẩm mỹ là sự rung động của con người trước cái đẹp, cái bi, cái hài, … nó không đơn thuần là những rung độ về mặt tâm lý, cảm xúc mà nó còn chứa bên trong khả năng ý thức của con người.
Quá trình hoạt động nghệ thuật là quá trình tìm đến cái đẹp. Trước mắt chúng ta phải trải ra một cánh đồng lúa chín, bà con xã viên đang vui vẻ gặt hái, hay trong một khu cửa của nhà khu công nhân tạp thể, thể hiện lên cảnh một người mẹ trẻ súng vẫn khoác vai mà đã vội ôm hôn đúa con bụ bẩm của mình sau khi ta tầm ! Ngay tức khắc, trong khoảnh khắc vừa thoạt thấy những cảnh đó, ở trong ta có dấy lên một phản ứng tình cảm. Tuy ta chưa kịp tìm hiểu về những cảnh gặt lúa ấy hay người mẹ trẻ nọ, trong tay đã nảy sinh một cảm xúc nhất định. Phản ứng tình cảm này, cảm xúc này chính là cảm xúc thẩm mỹ, vì nó đã dấy lên những cái đẹp khách quan trong cuộc sống sản xuất và chống Mỹ cứu nước.
Như vậy, khi ta tiếp xúc với các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nếu các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nếu các hiện tượng này có khả năng tác động kích thích đối với chúng ta, thì chúng ta lại có khả năng tiếp nhận và phản ứng lại sự tác động kích thích đó : hân hoan, vui sướng, thích thú trước những cái đẹp ; bất bình, căm ghét, giận dữ trước những cái xấu ; đau xót, mến phục, thương xót trước những cái bi ; cảm phục, tôn kính trước những cái hùng, v.v… Do đó, cảm xúc thẩm mỹ là dấu hiệu thường trực xác nhận sự có mặt của qua hệ thẩm mỹ, là biểu thị đâu tiên của ý thức thẩm mỹ của con người đối với hiện thực. Đồng thời, cảm xúc thẩm mỹ cũng là bằng chứng nói lên khả năng cảm thụ thẩm mỹ của con người trước các hiện tượng thiên nhiên và xã hội. Có thể nói rằng quan hệ thẩm mỹ của mỗi người chúng ta đối với những hiện tượng thẩm mỹ này khác trong cuộc sống được bắt đầu từ khi ở trong ta có dấy nên ở cảm 12 xúc thẩm mỹ. Bởi vì quan hệ thẩm mỹ của con ngưởi đối với một hiện tượng nào đó bao giờ cũng gắn liền trước sự rung cảm trước hiện tượng ấy.
Điều đáng chú ý ở đây là : tuy cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc được dấy nên trong ta khi có sự tác động của các hiện tượng khách quan, song nó hoàn toàn không phải là một cảm giác mang tính chất sinh lý, một phản ứng đơn thuần của cơ thể con người. Đang đói, được ăn no, hoặc đang bị rét ngoài trời lạnh, giờ được sưởi ấm bên bếp lửa trong nhà, ta đều có cảm giác thoải mái, dễ chịu. Những cảm giác no và ấm ấy củng là những phản ứng trực tiếp, song đáy là những cảm giác sinh lý, chứ không phải cảm xúc thẩm mỹ. Mac đã gọi cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc tinh thần.