Nghệ thuật và Vai Trò trong Hoàn Thiện Nhân Cách Người Việt (Luận văn Thạc sỹ Triết học)

Luận văn thạc sỹ triết học: Nghệ thuật & vai trò trong việc hoàn thiện nhân cách người Việt hiện nay. Phân tích sâu sắc giá trị văn hóa, đạo đức.

Trường đại học

Trường Đại ...

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2022

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7. Kết cấu

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT, NHÂN CÁCH VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NGHỆ THUẬT ĐẾN NHÂN CÁCH

1.1. Lý luận về nghệ thuật

1.1.1. Khái niệm về nghệ thuật

1.1.2. Bản chất của nghệ thuật

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghệ Thuật Hoàn Thiện Nhân Cách Người Việt 55kt

Luận văn này khám phá nghệ thuật và vai trò của nó trong việc hoàn thiện nhân cách người Việt trong bối cảnh hiện đại. Nhân cách, được xem là một sản phẩm của xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị và giáo dục. Nghiên cứu này đi sâu vào việc phân tích sự tác động của nghệ thuật đến phát triển nhân cách, đồng thời đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo quan điểm Mác - Lênin, con người là con người xã hội, chịu sự chi phối của xã hội. Hêghen từng nói “Các hình tượng cảm tính và thanh âm trong nghệ thuật xuất hiện không chỉ vì mình và sự bộc lộ trực tiếp của mình, mà để thoả mãn dưới hình thức này, những hứng thú tinh thần cao nhất, vì chúng có khả năng thất tĩnh và lay động mọi chiều sâu ý thức và gây nên tiếng vọng trong tâm hồn”.

Trong quá trình vận động và phát triển, nhân cách con người là một “sản phẩm” của sự tổng hợp các yếu tố “còn sót lại” trong ý thức và được biểu hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động thực tiễn. Nhân cách là cái mang tính chất tổng hợp, tích hợp của nhiều yếu tố, nhân cách không mang tính cá biệt, thuần tuý. Để là một con người có giá trị cho cuộc sống, cho xã hội thì việc hoàn thiện nhân cách là yếu tố không thể thiếu, con người muốn hoàn thiện nhân cách thì phải có bề dầy kinh nghiệm sống, không chỉ bản thân mà của người khác mang lại, trong đó có yếu tố gia đình. Nghệ thuật, với vai trò là một hình thái ý thức xã hội, là thế giới riêng của các nghệ sĩ, nó luôn tìm đến cái đẹp và phản ánh cuộc sống thực tại, nói lên những ước muốn của nhân loại do người nghệ sĩ khắc hoạ thông qua hình tượng nghệ thuật, nghệ thuật luôn mang trong nó những khả năng tìm ẩn, giáo dục nhân cách con người. Chỉ có thế giới nghệ thuật mới mang con người đến những ước mơ mà cuộc sống đối khi không thể tạo ra cho họ, nó góp phần làm nên sự hoàn thiện nhân cách con người, nó chất chứa nhân tố tình cảm, tức là nó tác động đến con người bằng con đường tình cảm.

1.1. Khái niệm về nghệ thuật và nhân cách theo triết học 50kt

Nghệ thuật là hoạt động phản ánh thế giới theo quy luật của cái đẹp của con người bằng hình tượng thông qua những phương thức nhất định. Nhân cách là phẩm chất của con người, và là tổng hoà tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: Đặc điểm thể chất (tạng), tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức, vai trò xã hội. Để tìm hiểu rõ về 2 khía cạnh này thì phải dựa trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và nhà nước ta làm tiền đề nghiên cứu. Để nội dung của luận văn được làm sáng tỏ hơn, tác giả đã kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: so sánh, phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic.

1.2. Mối liên hệ giữa nghệ thuật và hoàn thiện nhân cách 52kt

Nghệ thuật và nhân cách có một sợi dây liên kết vô hình. Thông qua tác phẩm nghệ thuật, đối với người nghệ sĩ thì đó là sự trau chuốt để nói lên tư tưởng, lý tưởng của mình, nhưng đối với người thưởng thức thì tác phẩm nghệ thuật giúp họ nhìn thấy những lý tưởng, sự kiện, thời đại mà người nghệ sĩ phản ánh. Nghệ thuật có một vai trò hết sức to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách, nghệ thuật tạo ra những giá trị tinh thần góp phần làm phong phú cho thời đại. Mỗi chúng ta một một cá nhân, nhân cách là nói chung cho tri thức, khả năng của con người trong xã hội nên mỗi người có mỗi cách thể hiện khác nhau trước mọi tình huống.

II. Thách Thức Biến Động Xã Hội Nhân Cách Người Việt 57kt

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức đối với nhân cách con người Việt Nam. Sự du nhập của văn hóa ngoại lai, lối sống thực dụng và những biến động trong kinh tế - xã hội đã tác động không nhỏ đến hệ giá trị truyền thống, đạo đức và lối sống của người Việt. Một bộ phận giới trẻ có biểu hiện sùng ngoại, xem thường các giá trị văn hóa dân tộc. Tinh thần yêu nước không chỉ là chiến đấu bảo vệ đất nước hay phấn đấu, hi sinh hết mình cho Tổ quốc mà con người cần có sáng tạo trong công việc, trong cuộc sống, sáng tạo theo địa vị xã hội mà mình đang nắm giữ.

Trong bối cảnh đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời xây dựng hệ giá trị phù hợp với thời đại là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đã không vượt qua được sự cám dỗ của đồng tiền nên đã không ngại “chạy chức”, “chạy quyền” để có thể ngồi vào vị trí quan trọng hoặc thu nhập cao nhờ vị trí đó mang lại, làm hoan ố đạo đức cách mạng, nhân phẩm bị xuống cấp, mất niềm tin của nhân dân, gây ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

2.1. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến giá trị đạo đức 50kt

Tác hại của mặt trái nền kinh tế thị trường, lối sống thiếu chuẩn mực, trách nhiệm của con người trong các mối quan hệ xã hội. Xu thế ngày nay cho thấy, con người đang trên đà xem trọng giá trị vật chất hơn đồng thời với xem nhẹ giá trị tinh thần, đó là do ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng phương Tây, họ luôn có ý muốn khẳng định vị trí của bản thân, bản lĩnh của mình trong xã hội, đem những mong muốn chủ quan của bản thân làm định hướng cho hướng đi của cuộc đời mình.

2.2. Biến động văn hóa và nguy cơ xói mòn bản sắc dân tộc 54kt

Quá trình toàn cầu hóa đã làm cho Việt Nam có điều kiện giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới, góp phần làm phong phú nền văn hóa trong nước. Tuy nhiên, thờii gian gần đây, trên đài truyền hình thuồng xuyên phát sóng những bộ phim nước ngoài, trong khi đó tần suất xuất hiện của phim Việt Nam là rất thấp. Chúng ta không phủ nhận cái hay của phim nước ngoài nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, nội dung phim có chứa nét văn hóa của dân tộc, khi chúng ta xem nhiều phim nước ngoài thì đồng nghĩa với việc có cơ hội tìm hiểu văn hóa nước ngoài nhưng văn hóa nước nhà thì dần bị quên lãng.

III. Giải Pháp Giáo Dục Rèn Luyện Nhân Cách Người Việt 59kt

Luận văn đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện nhân cách người Việt, trong đó giáo dục và rèn luyện đóng vai trò then chốt. Cần đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Mỗi người Việt Nam cần có ý thức rèn luyện bản thân, trau dồi phẩm chất đạo đức, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Cần đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

3.1. Phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục nhân cách 52kt

Giáo dục mang lại những yếu tố mà bẩm sinh di truyền tự nhiên không mang lại được, mỗi người khi sinh ra và lớn lên cần phải được học tập. Việc học tập của con người không chỉ dừng lại ở trường lớp, mà nó còn phải không ngừng được toi luyện hàng ngày, hàng giờ. Trong cuộc sống có rất nhiều thứ chúng ta cần phải học, nhân cách, tri thức của con người chỉ có thể hoàn thiện hơn chứ không thể hoàn thiện được, thế nên Lênin mới nói “Học, học nữa, học mãi”, giáo dục gia đình dạy cho ta những chuẩn mực đạo đức, lối sống, phong tục tạp quán.

3.2. Tăng cường giáo dục đạo đức lối sống trong nhà trường 56kt

Trường đời – thông qua giao tiếp xã hội cho chúng ta những tri thức, kinh nghiệm thực tế từ những hoạt động thực tiễn, giáo dục ở trường lớp cho chúng ta tri thức khoa học, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ. Những hình thức giáo dục điều có vai trò bù đắp lại sự thiếu sót mà mới sinh ra con người không thể có được. Giáo dục là sự tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng tiếp nhận (cá nhân) qua nội dung và hình thức tiếp nhận, nội dung là cái mà chủ thể giáo dục muốn truyền đạt đến đối tượng tiếp nhận, còn hình thức là phương thức truyền đạt.

IV. Phương Pháp Khai Thác Nghệ Thuật trong Giáo Dục Đạo Đức 59kt

Nghệ thuật, với khả năng giáo dục, truyền cảm và thẩm mỹ, là một công cụ hữu hiệu trong việc bồi dưỡng nhân cách. Khai thác các giá trị nhân văn, đạo đức trong các tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa, điện ảnh... để giáo dục thế hệ trẻ. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật mang đậm giá trị văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng nhân cách con người yêu nước, có lòng tự hào dân tộc. Về phương diện tác động trở lại của xã hội đối với giáo dục, nếu xã hội phát triển, tiến bộ thì phải có một nền giáo dục hiện đại xứng tầm. Giáo dục không chỉ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội mà nó còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nơi nuôi dưỡng mầm sóng của nhân cách. Giáo dục có ảnh hưởng đến nhân cách ngay từ khi mới hình thành nên phải “dạy con từ thuở còn thơ”, tâm hồn đứa trẻ như một trang giấy trắng, những ký tự, ký hiệu trên trang giấy đó theo thời gian xã hội sẽ tự khắc họa nên, mà giáo dục là một điển hình.

4.1. Ứng dụng văn học âm nhạc trong giáo dục đạo đức 52kt

Khi nhìn vào một bức tranh, ta có thể cảm nhận được khoảng cách, cảm giác, hay một cảm xúc nhất định. Một bức họa có thể diễn tả được một hiện tượng của thế giới. Với tài năng kết hợp một cách uyển chuyển những màu sắc, đường nét cùng với những thủ pháp đã tạo ra được những cảm giác đối với người cảm thụ, làm cho người cảm thụ đắm chìm trong sức mạnh huyền bí của cái đẹp mà bức họa mang lại. Cái đẹp ở đây vừa là một giá trị thực thụ nhưng cũng là một khoái cảm cho người cảm thụ. Sân khấu là loại hình nghệ thuật khá cuốn hút khán giả do khả năng giáo dục, truyền cảm của nó. Dù những hành động, biểu cảm của diễn viên là “bắt chước” nhân vật trong kịch bản, nhưng thông qua đó, đã mang đến cho khán giả một cảm giác có thật, mang đậm giá trị nhân văn.

4.2. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật giá trị 56kt

Đảng và nhà nước ta luôn xác định xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, mà chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ Nam cho mọi hành động. Để hội nhập và phát triển đất nước, nước ta phải giao lưu, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, trong đó có các nước tư bản. Chúng ta tiến lên xã hội chủ nghĩa từ một nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu, muốn xây dựng thành công thì phải có một nền đại công nghiệp, cơ khí vững mạnh và một nền kinh tế phát triển. Ngày nay, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thì kinh tế thị trường phải được thiết lập và phát triển.

V. Ứng Dụng Dự Án Giáo Dục Nhân Cách Qua Nghệ Thuật 59kt

Luận văn trình bày kết quả của một dự án thực tế áp dụng nghệ thuật vào giáo dục nhân cách cho học sinh trung học. Dự án sử dụng các phương pháp như: kể chuyện, đóng vai, vẽ tranh, âm nhạc... để giúp học sinh phát triển kỹ năng sống, tình cảm, đạo đức. Đánh giá hiệu quả của dự án thông qua khảo sát, phỏng vấn học sinh, giáo viên và phụ huynh. Kết quả cho thấy dự án có tác động tích cực đến sự phát triển nhân cách của học sinh, giúp các em tự tin, sáng tạo, yêu thương và sống có trách nhiệm hơn. Kết quả cho thấy dự án có tác động tích cực đến sự phát triển nhân cách của học sinh, giúp các em tự tin, sáng tạo, yêu thương và sống có trách nhiệm hơn.

5.1. Mô tả chi tiết phương pháp và hoạt động của dự án 55kt

Dù rằng, nói đến nhân cách là nói đến yếu tố xã hội của một người nhất định nhưng con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có thể lực. Chỉ có đủ sức khoẻ thì con người mới có thể làm được những gì mình mong muốn. Bất kỳ xa hội nào, vấn đề sức khoẻ vẫn luôn được xem trọng bởi “sức khoẻ là vàng”. Để tiếp xúc với xã hội, con người phải có đầy đủ năng lực về thể chất và trí tuệ. Xét đến cùng, mọi hoạt động vật chất đều cần đến sức lao động của con người, khi khoa học phát triển thì máy móc dần dần thay thế sức lao động trực tiếp của con người.

5.2. Phân tích kết quả và đánh giá tác động của dự án 55kt

Quá trình hoạt động xã hội, con người tiếp thu những giá trị văn hóa của nhân loại, trong đó có những thành tựu văn hóa của thế hệ trước để lại. Quá trình tiếp thu và kế thừa này không phải là một quá trình di truyền vật chất từ thế hệ này sang thế hệ khác mà là thông qua giao tiếp, thông qua giáo dục. Bởi lẽ, nhân cách không chỉ chịu sự tác động của xã hội hiện tồn mà còn chịu sự tác động của lịch sử xã hội trước đó. Hành vi của một cá nhân không chỉ được quyết định bởi vị trí, vai trò của người đó trong xã hội mà còn được quyết định bởi khả năng, trình độ tiếp thu các giá trị văn hóa mà người đó đã tích lũy được và kinh nghiệm sống trong quá trình hoạt động xã hội.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Nghệ Thuật và Nhân Cách Việt 55kt

Luận văn khẳng định vai trò quan trọng của nghệ thuật trong việc hoàn thiện nhân cách người Việt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các phương pháp giáo dục nhân cách thông qua nghệ thuật, góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam văn minh, giàu lòng yêu nướctự hào dân tộc. Để hoàn thiện bản thân, con người không ngừng tự vươn lên trong cuộc sống, tự học hỏi tìm tòi, tích lũ những kinh nghiệm, đó là quá trình tự giáo dục. Con người hoàn toàn có tính tự giác đối với hành vi của bản thân, tự ý thức và tham gia một cách tích cực vào các vấn đề của xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, môi trường xã hội là nhân tố tác động đến nhân cách, với đặc thù đa dạng của xã hội,con người không ngừng học tập, tiếp thu văn hóa, giao tiếp, … để làm phương tiện cho hoạt động, làm cho năng lực thích ứng của mỗi người tốt hơn, nhân cách có tính đa dạng hơn

6.1. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về giáo dục nhân cách 57kt

Nền giáo dục phát triển thì sẽ tạo ra những con người có đủ tâm, đủ tầm cho xã hội. Ngược lại, một nền giáo dục kém phát triển, thối nát sẽ tạo ra những “con sâu bọ” tác hại đến xã hội. Về phương diện tác động trở lại của xã hội đối với giáo dục, nếu xã hội phát triển, tiến bộ thì phải có một nền giáo dục hiện đại xứng tầm. Giáo dục không chỉ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội mà nó còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nơi nuôi dưỡng mầm sóng của nhân cách.

6.2. Khuyến nghị chính sách để phát triển văn hóa nghệ thuật 57kt

Đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Mỗi người Việt Nam cần có ý thức rèn luyện bản thân, trau dồi phẩm chất đạo đức, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Cần đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

28/09/2025
Nghệ thuật và vai trò của nghệ thuật trong việc hoàn thiện nhân cách con người việt nam giai đoạn hiện nay luận văn thạc sỹ triết học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT, NHÂN CÁCH VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NGHỆ THUẬT ĐẾN NHÂN CÁCH 1. Lý luận về nghệ thuật 1. Khái niệm về nghệ thuật Nghệ thuật ra đời như là một tất yếu của sự đam mê cái đẹp của con người trước thế giới hiện thực. Dựa vào nguồn gốc hình thành các loại hình nghệ thuật, người ta đã có nhiều cách hiểu khác nhau về nghệ thuật.

Quan niệm thứ nhất, nghệ thuật là sự khéo léo, đi kèm với tài nghệ nào đó của con người. Quan niệm thứ hai, nghệ thuật là phương tiện dùng những cách thức nhất định để biểu đạt và lưu giữ tình cảm, suy nghĩ của con người. Quan niệm thứ ba, nghệ thuật là một hình thái ý thức, ra đời từ lao động và chiến đấu, từ các nhu cầu miêu tả, tín ngưỡng và rút ra bài học về cuộc sống. Quan điểm thứ tư, nghệ thuật là khái niệm dùng để chỉ hoạt động sáng tác theo quy luật của cái đẹp.

Xét về nguồn gốc hình thành mà nói, nghệ thuật ra đời sau xã hội loài người, hay nói khác hơn, tác phẩm nghệ thuật do con người sáng tạo ra. Thứ hai, không một tác phẩm nghệ thuật nào không gắn liền với cuộc sống con người, tác phẩm nghệ thuật luôn ẩn chứa tâm tư, tình cảm của người nghệ sĩ. Thứ ba, tác phẩm nghệ thuật luôn phản ánh một sự vật, hiện tượng, phản ánh một vấn đề nào đó trong xã hội. Tóm lại, nghệ thuật là hoạt động phản ánh thế giới theo quy luật của cái đẹp của con người bằng hình tượng thông qua những phương thức nhất định.

Với ý nghĩa này, sáng tạo nghệ thuật không phải là hoạt động phản ánh trực tiếp, mà nó thông qua người nghệ sĩ (người sáng tác), mang tính chất chủ quan, cảm tính. Đây là quá trình phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan, mức độ phản ánh, nội dung và hình thức phản ánh phụ thuộc vào người sáng tác. Bản chất của nghệ thuật 1. Nghệ thuật là giá trị xã hội được đánh giá theo quy luật tình cảm Đời sống tình cảm của con người vô cùng phong phú và đa dạng.

Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ. Những giá trị của nghệ thuật được sáng tạo và hưởng thụ thông qua những quy luật của tình cảm. Đó là các quy luật: quy luật thích ứng, quy luật lây lan, quy luật di chuyển, quy luật tương phản, quy luật pha trộn và quy luật về sự hình thành tình cảm. Quy luật thích ứng là một xúc cảm, tình cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách không thay đổi thì cuối cùng sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống.

Đó là hiện tượng “chai sạn” tình cảm. Khi xem một bộ phim mới, chúng ta rất hào hứng và cảm thấy vui thích trướng những ý tưởng nghệ thuật, hình thức thể hiện, âm thanh, ánh sáng của nó nhưng khi ta xem đi xem lại bộ phim ấy nhiều lần, cảm xúc vui thích ấy không còn nữa, thậm chí rơi vào buồn chán. Ở đây, những giá trị xã hội của bộ phim không phải bị mất đi, nó vẫn vậy, nhưng sự thích ứng của tình cảm làm cho con người đã quen với nó, vì thế nó không còn gây tác động mạnh mẽ đến cảm nhận con người nữa. Khi hiện tượng thích ứng đối với một giá trị nghệ thuật ở con người xuất hiện thì có hai trường hợp xảy đến: Một là, giá trị ấy đủ sức hấp dẫn cá nhân thì nó sẽ thâm nhập vào nhân cách cá nhân ấy góp phần nâng cao năng lực của cá nhân; hai là, nếu nó không đủ sức hấp dẫn thậm chí đối lập hệ giá trị của cá nhân nó sẽ nhanh chóng bị cá nhân loại ra khỏi đời sống thẩm mỹ của mình, nó góp phần giúp cá nhân phân định rõ cái đối lập với nhu cầu thẩm mỹ của mình và qua đó củng cố lý tưởng thẩm mỹ cá nhân.

Có thể nói, thông qua quy luật thích ứng của tình cảm, mọi giá trị xã hội của nghệ thuật đều có lợi cho nhân cách. Quy luật lây lan là xúc cảm, tình cảm của chủ thể này có thể truyền, lây sang chủ thể khác. Sự biểu hiện của quy luật này có thể thấy ở phạm vi ngoại diên chủ thể. Khi một chủ thể đã yêu thích một đối tượng thì những chủ thể người xung quanh do bị ảnh hưởng mà cũng yêu thích đối tượng ấy.

Ví dụ như Hồ Chí Minh yêu thích văn hóa xã hội chủ nghĩa vì thế mà đa số người Việt Nam cũng yêu thích văn hóa xã hội chủ nghĩa. Kỳ 10 thực, đa số người dân có thể chưa đọc truyện Kiều nhưng lại rất yêu mến Thúy Kiều là bởi vì họ nghe kể về Kiều, tình cảm của người kể đã lan truyền đến họ. Quy luật tương phản ám chỉ rằng trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy yếu của một tình cảm này có thể làm giảm hoặc tăng của một hiện tượng khác diễn ra đồng thời. Người càng yêu nước thì càng thù giặc ngoại xâm.

Với quy luật tương phản như thế, khi nghệ thuật đẩy cái ác lên cao trào, con người sẽ càng hướng về cái thiện; nghệ thuật càng tôn vinh cái đẹp, con người sẽ càng xa rời cái xấu. Quy luật tương phản giúp con người hướng đến những giá trị xã hội của nghệ thuật đó là chân – thiện – mỹ. Quy luật di chuyển là hiện tượng tình cảm, cảm xúc của chủ thể có thể di chuyển từ khách thể này sang khách thể khác. Khi một khách thể được yêu thích thì tất cả những khách thể có liên quan cũng sẽ được yêu thích theo.

Ví dụ như một người đã yêu thích chủ nghĩa lãng mạn thì ít nhiều đều yêu thích những sản phẩm nghệ thuật chứa đựng tính mộng tưởng và đề cao sự tự do. Quy luật di chuyển giúp con người tiếp nhận những giá trị xã hội của nghệ thuật một cách rất chủ động và toàn vẹn. Quy luật pha trộn là sự cùng tồn tại của những thái độ khác nhau về đối tượng bên trong tình cảm của chủ thể. Trong đời sống tình cảm của con người, nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau, chúng pha trộn vào nhau.

Đứng trước một khách thể thẩm mỹ con người có thể vừa cảm thấy hài lòng nhưng cũng đồng thời khó chịu với những khiếm khuyết của nó. Nhân vật Đường Tăng vừa làm ta khinh khi ngài phàm tục tin lời Bạch Cốt Tinh đuổi Tôn Ngộ Không đi nhưng đồng thời cũng kính phục ý chí và lòng nhân từ của ngài. Quy luật về sự hình thành tình cảm thể hiện rằng xúc cảm là cơ sở của tình cảm, tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại, chúng được động hình hóa, tổng hợp hóa và khái quát hóa mà thành. Động hình hóa là khả năng làm sống lại một phản xạ thẩm mỹ hoặc một chuỗi phản xạ thẩm mỹ đã được hình thành từ trước.

Tổng hợp hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thuộc tính thẩm mỹ đã được tách rồi nhờ sự phân 11 tích thành một chỉnh thể thẩm mỹ. Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều thuộc tính thẩm mỹ của những đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những cái chung nhất định. Quá trình hoạt động nghệ thuật luôn chất chứa những tình cảm của người nghệ sĩ, đó là tình cảm thẩm mỹ. Tình cảm thẩm mỹ là sự rung động của con người trước cái đẹp, cái bi, cái hài, … nó không đơn thuần là những rung độ về mặt tâm lý, cảm xúc mà nó còn chứa bên trong khả năng ý thức của con người.

Quá trình hoạt động nghệ thuật là quá trình tìm đến cái đẹp. Trước mắt chúng ta phải trải ra một cánh đồng lúa chín, bà con xã viên đang vui vẻ gặt hái, hay trong một khu cửa của nhà khu công nhân tạp thể, thể hiện lên cảnh một người mẹ trẻ súng vẫn khoác vai mà đã vội ôm hôn đúa con bụ bẩm của mình sau khi ta tầm ! Ngay tức khắc, trong khoảnh khắc vừa thoạt thấy những cảnh đó, ở trong ta có dấy lên một phản ứng tình cảm. Tuy ta chưa kịp tìm hiểu về những cảnh gặt lúa ấy hay người mẹ trẻ nọ, trong tay đã nảy sinh một cảm xúc nhất định. Phản ứng tình cảm này, cảm xúc này chính là cảm xúc thẩm mỹ, vì nó đã dấy lên những cái đẹp khách quan trong cuộc sống sản xuất và chống Mỹ cứu nước.

Như vậy, khi ta tiếp xúc với các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nếu các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nếu các hiện tượng này có khả năng tác động kích thích đối với chúng ta, thì chúng ta lại có khả năng tiếp nhận và phản ứng lại sự tác động kích thích đó : hân hoan, vui sướng, thích thú trước những cái đẹp ; bất bình, căm ghét, giận dữ trước những cái xấu ; đau xót, mến phục, thương xót trước những cái bi ; cảm phục, tôn kính trước những cái hùng, v.v… Do đó, cảm xúc thẩm mỹ là dấu hiệu thường trực xác nhận sự có mặt của qua hệ thẩm mỹ, là biểu thị đâu tiên của ý thức thẩm mỹ của con người đối với hiện thực. Đồng thời, cảm xúc thẩm mỹ cũng là bằng chứng nói lên khả năng cảm thụ thẩm mỹ của con người trước các hiện tượng thiên nhiên và xã hội. Có thể nói rằng quan hệ thẩm mỹ của mỗi người chúng ta đối với những hiện tượng thẩm mỹ này khác trong cuộc sống được bắt đầu từ khi ở trong ta có dấy nên ở cảm 12 xúc thẩm mỹ. Bởi vì quan hệ thẩm mỹ của con ngưởi đối với một hiện tượng nào đó bao giờ cũng gắn liền trước sự rung cảm trước hiện tượng ấy.

Điều đáng chú ý ở đây là : tuy cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc được dấy nên trong ta khi có sự tác động của các hiện tượng khách quan, song nó hoàn toàn không phải là một cảm giác mang tính chất sinh lý, một phản ứng đơn thuần của cơ thể con người. Đang đói, được ăn no, hoặc đang bị rét ngoài trời lạnh, giờ được sưởi ấm bên bếp lửa trong nhà, ta đều có cảm giác thoải mái, dễ chịu. Những cảm giác no và ấm ấy củng là những phản ứng trực tiếp, song đáy là những cảm giác sinh lý, chứ không phải cảm xúc thẩm mỹ. Mac đã gọi cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc tinh thần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ