Khóa luận: Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ ở TP. Hồ Chí Minh

Dưới đây là các meta tags cho bài viết 'Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ ở thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học': { "ai_description":

Trường đại học

Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Đông Nam Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2013

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ

Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ là ngành thủ công truyền thống gắn liền với nghệ thuật sân khấu cải lương, đặc biệt phát triển tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nghề kết hợp giữa kỹ thuật may vá tinh xảo và nghệ thuật thêu thùa, nhằm tái hiện trang phục lịch sử cho các vai diễn. Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sang (2013), ngành nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu biểu diễn mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Tại TP.HCM, các cơ sở sản xuất trang phục cải lương tập trung chủ yếu ở quận 1, quận 5 và quận 11, nơi có cộng đồng nghệ sĩ và khán giả yêu thích loại hình nghệ thuật này. Điểm nổi bật của nghề là sự kế thừa kỹ thuật từ các thế hệ thợ thủ công, kết hợp với chất liệu vải truyền thống như lụa, gấm, cùng họa tiết thêu cầu kỳ. Nghề cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Trung Hoa và Nam Bộ, tạo nên phong cách độc đáo trong từng sản phẩm.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ bắt nguồn từ thế kỷ 20 khi cải lương du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc. Theo ghi chép, vào thập niên 1920-1930, các gánh hát cải lương đầu tiên tại Sài Gòn đã hợp tác với thợ may người Hoa để sản xuất trang phục cho đoàn. Đến thập niên 1950-1960, ngành nghề phát triển mạnh mẽ nhờ sự đóng góp của các nghệ sĩ như Khánh Hồng, Bảy Huỳnh và Minh Tơ. Họ đã mua lại trang phục từ các gánh hát người Hoa ở Chợ Lớn, tạo nên phong cách rực rỡ và cầu kỳ cho sân khấu cải lương. Thập niên 1970-1980 chứng kiến sự suy giảm do chiến tranh, nhưng từ thập niên 1990, nghề dần hồi sinh nhờ chính sách khuyến khích bảo tồn văn hóa dân tộc.

1.2. Vai trò trong bảo tồn văn hóa

Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Mỗi sản phẩm không chỉ là trang phục biểu diễn mà còn là hiện thân của lịch sử, phong tục và tín ngưỡng. Theo nghiên cứu, trang phục cải lương tuồng cổ phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa Hán và văn hóa Việt, với các họa tiết tượng trưng cho quyền lực, may mắn hoặc đạo đức. Tại TP.HCM, các cơ sở như Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và Cơ sở trang phục Phượng Nga đã góp phần duy trì kỹ thuật chế tác, đồng thời đào tạo thế hệ thợ trẻ. Sự tồn tại của nghề cũng thúc đẩy du lịch văn hóa, thu hút du khách tìm hiểu về nghệ thuật truyền thống.

II. Những thách thức đối với nghề làm trang phục cải lương

Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ tại TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, đe dọa sự tồn tại lâu dài. Theo khảo sát của tác giả Nguyễn Ngọc Sang (2013), nguyên nhân chủ yếu đến từ sự thiếu hụt thợ thủ công lành nghề, khi lớp thợ già dần mất đi mà không có người kế thừa. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất tăng cao do giá nguyên liệu (lụa, gấm, chỉ thêu) leo thang, trong khi giá bán sản phẩm bị giới hạn bởi ngân sách hạn hẹp của các đoàn cải lương. Sự cạnh tranh từ trang phục công nghiệp, rẻ tiền và dễ sản xuất cũng khiến các cơ sở thủ công gặp khó khăn. Ngoài ra, xu hướng khán giả trẻ ít quan tâm đến cải lương truyền thống làm giảm nhu cầu mua trang phục, đẩy ngành nghề vào tình trạng khó khăn. Chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh cũng là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững.

2.1. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng

Nguồn nhân lực cho ngành nghề này đang dần cạn kiệt do thiếu hấp dẫn về thu nhập và điều kiện làm việc. Các thợ thủ công già thường không có người kế thừa vì con cháu họ chuyển sang ngành nghề khác có thu nhập ổn định hơn. Theo khảo sát, mức lương trung bình của thợ may trang phục cải lương chỉ dao động từ 5-8 triệu đồng/tháng, thấp hơn nhiều so với mức sống tại TP.HCM. Bên cạnh đó, công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn trong nhiều tháng mới hoàn thành một sản phẩm, khiến giới trẻ ngại tham gia. Các cơ sở sản xuất cũng thiếu chương trình đào tạo bài bản, chủ yếu dựa vào truyền nghề cha truyền con nối.

2.2. Áp lực cạnh tranh và biến đổi thị trường

Thị trường trang phục cải lương đang chịu áp lực lớn từ sản phẩm công nghiệp giá rẻ. Các đoàn cải lương thường ưu tiên sử dụng trang phục nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc sản xuất hàng loạt bằng vải kém chất lượng để tiết kiệm chi phí. Điều này không chỉ làm giảm giá trị nghệ thuật mà còn khiến thợ thủ công địa phương khó cạnh tranh. Ngoài ra, sự sụt giảm khán giả cải lương trong những năm gần đây cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu mua sắm trang phục. Theo thống kê, số lượng vở diễn cải lương tuồng cổ tại TP.HCM giảm từ 50 vở/năm (2010) xuống còn 20 vở/năm (2020), kéo theo nhu cầu trang phục giảm theo.

III. Giải pháp phát triển nghề làm trang phục cải lương

Để bảo tồn và phát triển nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ tại TP.HCM, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, các cơ quan quản lý cần xây dựng chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp cho các cơ sở sản xuất. Đồng thời, tổ chức các lớp đào tạo kỹ thuật chế tác cho thế hệ trẻ, kết hợp với truyền nghề trực tiếp từ các nghệ nhân giàu kinh nghiệm. Về mặt thị trường, cần khuyến khích các đoàn cải lương sử dụng trang phục thủ công bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính hoặc tín dụng ưu đãi. Bên cạnh đó, đẩy mạnh quảng bá giá trị văn hóa của sản phẩm thông qua các sự kiện văn hóa, triển lãm và hợp tác với ngành du lịch. Cải tiến mẫu mã, kết hợp yếu tố hiện đại vào trang phục truyền thống cũng là hướng đi thu hút khách hàng trẻ tuổi. Cuối cùng, thành lập hiệp hội nghề nghiệp để kết nối các cơ sở, chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm.

3.1. Chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước

Chính quyền TP.HCM cần ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể như miễn thuế VAT cho sản phẩm thủ công, cấp vốn vay không lãi suất cho cơ sở sản xuất và bảo trợ thương hiệu cho các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng. Theo đề xuất của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, nên xây dựng chương trình “Bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống” với ngân sách hàng năm từ 5-10 tỷ đồng. Ngoài ra, thành phố cần tạo điều kiện cho các cơ sở tham gia hội chợ triển lãm quốc tế, giúp quảng bá sản phẩm đến thị trường rộng lớn hơn. Việc công nhận nghề thủ công là di sản văn hóa phi vật thể cũng sẽ nâng cao vị thế ngành nghề này trong xã hội.

3.2. Đào tạo và kế thừa kỹ thuật

Để giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực, cần triển khai chương trình đào tạo nghề bài bản tại các trường cao đẳng, trung cấp nghệ thuật. Nội dung đào tạo nên kết hợp giữa lý thuyết (lịch sử trang phục, kỹ thuật thêu) và thực hành (may ráp, thiết kế mẫu). Các nghệ nhân có tay nghề cao nên được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” hoặc “Nghệ nhân nhân dân” để tôn vinh đóng góp. Bên cạnh đó, khuyến khích sinh viên ngành thiết kế thời trang tham gia thực tập tại các cơ sở sản xuất, vừa học vừa làm. Các cơ sở cũng nên tổ chức lễ giỗ Tổ nghề định kỳ để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống gia đình và lòng tự hào dân tộc.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng trong thực tiễn

Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ tại TP.HCM là ngành nghề truyền thống có giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc. Tuy nhiên, sự suy giảm về nguồn nhân lực, cạnh tranh thị trường và thiếu chính sách hỗ trợ đang đẩy ngành nghề này vào tình trạng báo động. Để bảo tồn và phát triển, cần sự chung tay của Nhà nước, các cơ sở sản xuất và cộng đồng nghệ sĩ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp như đào tạo nhân lực, hỗ trợ tài chính, quảng bá sản phẩm và cải tiến mẫu mã sẽ giúp nghề hồi sinh mạnh mẽ. Trong tương lai, ngành nghề này không chỉ góp phần bảo tồn di sản văn hóa mà còn trở thành điểm nhấn du lịch văn hóa, thu hút du khách trong và ngoài nước. Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc số hóa kỹ thuật chế tác, ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất trang phục để nâng cao năng suất và chất lượng.

4.1. Tầm quan trọng của bảo tồn nghề truyền thống

Bảo tồn nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng nghệ sĩ mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Theo UNESCO, các ngành nghề thủ công truyền thống là một phần quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, cần được gìn giữ cho thế hệ mai sau. Tại TP.HCM, nghề này còn gắn liền với sự phát triển của sân khấu cải lương, một loại hình nghệ thuật đặc sắc của vùng đất Nam Bộ. Việc mất đi nghề thủ công sẽ kéo theo sự mai một của các giá trị văn hóa, phong tục tập quán và cả những câu chuyện lịch sử được tái hiện qua trang phục. Do đó, bảo tồn nghề không chỉ là bảo vệ một ngành kinh tế mà còn là bảo vệ linh hồn của văn hóa dân tộc.

4.2. Triển vọng phát triển trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, ngành nghề làm trang phục cải lương có thể tận dụng công nghệ để hồi sinh. Việc số hóa mẫu thiết kế, ứng dụng phần mềm CAD vào may ráp hoặc sử dụng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm là những hướng đi tiềm năng. Theo nghiên cứu, thị trường thương mại điện tử (như Shopee, Lazada) có thể trở thành kênh phân phối hiệu quả cho sản phẩm thủ công. Ngoài ra, hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để phát triển sản phẩm sáng tạo, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại cũng là giải pháp thu hút giới trẻ. Với sự hỗ trợ đúng đắn, ngành nghề này hoàn toàn có thể trở thành biểu tượng của văn hóa sáng tạo tại TP.HCM.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ ở thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 chúng tôi tập trung nêu ra các khái niệ m nền tảng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Đó là các khái niệm về văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa. Bên cạnh đó là các khái niệm cải lương, cải lương tuồng cổ, trang phục - trang phục cải lương tuồng cổ, nghề truyền thống. Đe hoàn thiện về cơ sở lý luận, chúng tôi còn phân tích hệ tọa độ văn hóa của trang phục cải lương tuồng cổ.

Dồng thời, phân tích cơ sở pháp lý trong hoạt dộng bảo tồn và phát triển nghề truyền thống để làm nền tảng cho việc phân tích giá trị văn hóa của nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ. Chương 2: Nghề làm trang phục cải lương tuồng cồ - những giả trị văn hóa truyền thong: Chương 2 tập trung phân tích giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, giá trị văn hóa xã hội của nghề làm trang phục cải lưo*ng tuồng cổ. Trong hệ giá trị văn hóa vật thể, chúng tôi tập trung phân tích các sản phẩm, kỹ th J';, công nghệ, thị trường tiêu thụ của trang phục. Hệ giá trị văn hóa phi vật tl g trên cơ sở tính mỹ thuật của trang phục, kinh nghiệm - bí quyết nghề - phương thức lưu truyền, tín ngưỡng thờ Tổ nghề, lễ giỗ Tồ nghề cải lương.

Phần cuối Chương 2 đúc kết giá trị văn hóa xã hội của nghề thông qua tính lịch sử, tính dân tộc, tính biểu tượng, tính linh hoạt của trang phục cải lương tuồng cổ. Chương 3: Hiện trạng và giải pháp phát triển nghề: Chương 3 đề cập đến hiện trạng của nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ như những thuận lợi, khó khăn của các cơ sở làm trang phục hiện nay. Trọng tâm của chương 3 là đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn nghề và phát huy giá trị văn hóa của trang phục cải lương tuồng cổ. C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIÊN 1.

Văn hóa Khái niệm văn hóa được diễn đạt bàng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau quan điểm cho ràng văn hóa hoàn toàn không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là một tổng thể và nghiên cứu về văn hóa lả phải tổng hợp. “ Văn hỏa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con « người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [11, tr.

Văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản: tính hệ thống - thực hiện chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị - điều chỉnh xã hội, tính nhân sinh - giao tiếp, tính lịch sử - giáo dục. Trong các đặc trưng của văn hóa, tính giá trị là một trong những đặc trưng quan trọng, được xem như thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Theo ý nghĩa, có thê chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ.

Cách phân chia khác, các giá trị văn hóa bao gồm giá trị văn hóa phi vật thể, vật thể và giá trị văn hóa xã hội [11, tr. Đe tài dựa theo cách phân chia này để tiếp cận vấn đề nghiên cứu. Trong tiến trình văn hóa Việt Nam, bên cạnh lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa giai đoạn văn hóa Đại Việt (đặc là thời đại Lý - Trần) đã khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện. Đen giai đoạn văn hóa Đại Nam, cùng với lớp văn hóa giao lưu văn hóa phương Tây, lịch sử văn hóa Việt Nam được lật sang tr a n ^ ừ ^ g ^ ớ i [11, tr.

Trong đó, các loại hình nghệ thuật sân khấu Việt Nam có những bước chuyển biến khá rõ rệt, được xem là nút sóng của sự giao thoa văn hóa diễn ra trên mảnh đất Việt Nam. Trên cơ sở sự giao lưu tiếp biển văn hóa, vùng văn hóa, hệ tọa độ của văn hóa Việt Nam, các khía cạnh thời gian, không gian, chủ thể^Chúng tôi phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài theo hướng đánh giá các giá trị văn hóa để làm nền tảng giải quyết những vấn đề đặt ra. Cải lưo’ng Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cải lương theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là “sửa đổi cho tốt hơn”. Cách hiểu thứ hai, cải lương là “cách diễn tuồng theo một lối được sửa đổi cho họp, cho hay hơn” [8, tr.

Trần Văn Khê (2007) trong bài viết Cải lương, nghệ thuật sân khấu truyền thong Nam bộ Việt Nam giải thích “dựa trẽn ý nghĩa Hán Việt của từ cải lương chúng ta thấy cải lưcmg là sửa đổi cho trở nên tốt hơn. Cải lương được thay đổi từ hát bội. Người nghệ sĩ cải lương có cách múa, hát, mặc xiêm y giống như một sân khấu hát bội”. Trần Ngọc Thêm, đầu thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu phương Tây thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào Việt Nam.

“Cùng với sự xuất hiện của kịch nói như một loại hình nghệ thuật sân khấu Âu Tây hoàn toàn, ở Nam Bộ hình thành cải lương như một sản phẩm của trào lưu cải cách nghệ thuật hát bội theo hướng bổ sung những yếu tố của sân khấu phương Tây” [10, tr. Trần Quốc Vượng cho rằng, trong ba mô hình sân khấu Việt Nam lịch đại và đồng đại (diễn xướng dân gian, kịch hát truyền thống, sân khấu kịch nói hiện đại), cải lương thuộc mô hình kịch hát truyền thống, xuất hiện trong những thập kỷ đàu thể kỷ XX. “Mô hình cải lương chịu ảnh hưởng nặng của ca kịch Hồ Quảng lẫn kịch nói phương Tây” [17, tr. Tác giả Vương Hồng Sen (1968) trong cuốn Hồi kỷ 50 năm mê hát: Cải ỉưcmg dã 50 tuồi viết “cải lương có cái sứ mạng cao cả, phô diễn lên sự thật của xã hội, những trạng thái lầm than của dân đen, để truyền bá những phương pháp cải tổ xã hội, và gieo rác tinh thần đấu tranh cho dân tộc” [7, tr.

Cải lương ra đời góp phần “cải tạo những con người đã bị chủ nghĩa thực dân mới lôi cuốn, lừa gạt, xô đẩy và sa đọa vào tội lỗi” [5, tr. Rút từ nhiều quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu cải lương là loại hình kịch hát truyền thông của Việt Nam ra đời khoảng năm 1918 trong bối cảnh giao thời ở vùng đât Nam Bộ, giữa lúc phong trào cải cách xã hội, cải cách văn hóa nghệ thuật, nâng cao dân trí theo hướng thẳm mỹ mới phát triển sâu rộng trong nhân dân. Bắt dầu từ ca nhạc tài tử phát triển lên trò diễn ca ra bộ, đến cải cách hát bội, tiếp thu ảnh hưởng của ca kịch Hồ Quàng và yếu tố sân khấu co truyền phương Tây dưới sự ủng hộ nhiệt tình của công chủng, báo chí, các tác giả, nghệ sĩ thời bấy giờ. Phân loại cải lương : Dựa trên nội dung tuồng tích, các nhà nghiên cứu phân chia cải lương thành: - Tuồng dã sử: là loại tuồng cải lương soạn theo dã sử Việt Nam như Nữ vương Trưng Trắc, Trọng Thủy Mỵ Châu, Lê Lai cứu chúa, Lê Lợi khởi nghĩa, Cao Hoàng 11 phục quốc, Võ Tánh tử tiết, Gia Long tẩu quốc., ra đời trong giai đoạn đầu hình thành cải lương (khoảng 1917 - 1922).

Trước đó, các tuồng tích cải lương thường được lấy trong thơ xưa như Vân Tiên Nguyệt Nga, Kim Vân Kiều, Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Thạch Sanh Lý Thông. - Tuồng Tàu (tuồng Hồ Quảng): là loại tuồng cải lương phỏng theo các tích, truyện Trung Quốc như Phụng Nghi đình, Hoàng Phi Hổ đầu Châu, Tống tửu Đơn Hùng Tín, Chung Vô Diệm, Xử bá đao Từ Hải Thọ, Quan Công tẩu mạch thành, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Xử án Bàng Quý Phi, Mạnh Lệ Quân thoát hài., xuất hiện cùng thời với tuồng dã sử. Đến những năm 1950 - 1960, khi phim ảnh và tuồng Đài Loan, Quảng Đông, Triều Châu, du nhập vào Việt Nam thì những điệu nhạc Đài Loan, nhạc Quảng cũng được tiếp thu đưa vào làm ca khúc trong tuồng hình thành nên cải lương Hồ Quảng [4, tr. - Tuồng xã hội (tuồng Tây): là loại tuồng cải lương khai thác đề tài xã hội, tiếp thu nghệ thuật sân khấu truyền thống thương Tây.

Một số vở tuồng phỏng tác theo tiểu thuyết và kịch châu Ẩu như Cách Lan phương tử, Túy hoa Vương nữ, Đoạn tuyệt, Giá trị danh dự., một số cốt truyện lấy từ thực tế xã hội Việt Nam như Tô Ánh Nguyệt, Đời cô Lựu, Lan và Điệp. Tuồng xã hội nở rộ vào những năm 1923 - 1945 trong bối cảnh cải lương hưng thịnh, phát triển không ngừng [4, tr. - Tuồng hương xa: là loại tuồng cải lương hư cấu cốt truyện ở nước ngoài như Nhật Bản (tuồng Nhật: Giấc mộng Vương phi, Nỗi buồn thu thảo, Khi hoa anh đào nở.), Án Độ (chủ yếu là các tuồng Phật: Thích Ca đắc đạo, Tiền thân Phật Tổ.), Ba Tư, Hàn Quốc, Cao Miên. ra đời nhàm đáp ứng thị hiếu công chúng [4, tr.

- Cách phân chia khác phân tuồng cải lương thành các loại tuồng Tây, tuồng Tàu, tuồng La Mã diễm huyền, tuồng Tiên, tuồng Phật, tuồng Ma, tuồng Kiếm hiệp, tuồng Chiến tranh nguyên tử, tuồng Mỹ. Dựa theo sự phân chia trên, kết hợp với hình thức trang phục sân khấu, có thể chia cải lương thành hai loại: - Cải lương xã hội: là loại hình cải lương khai thác những đề tài tâm lý - xã hội, mang tính chất hiện đại. Cải lương xã hội tả thực - từ cách hóa trang, đạo cụ cho đến cách diễn đều đặc tả sự việc xảv^tPàa sàn diễn sao cho giống sự thực, v ề trang phục, nghệ sĩ ăn mặc giống nhân vâí ngoài ngoài đời trong xã hội hiện đại [3, tr. 12 - Cải lương tuồng cổ: là loại hình cải lương khai thác những đề tài lịch sử Việt Nam (tuồng dã sử), tích truyện cổ Trung Quốc (tuồng Tàu - Tuồng Hồ Quảng), hay hư cấu cốt truyện cổ nước ngoài như Mông cổ, Nhật Bản, Án Độ, Ba Tư.

Cách dàn dựng sân khấu cải lương tuồng cổ phải phù hợp với tình tiết, bối cảnh của tuồng tích, v ề trang phục, diễn viên ăn mặc theo lối cổ trang với trang phục đội, mặc, đi mang tính biểu tượnệ^caơ^gọi là “sắm tuồng” [3, tr. Hướng phân chia này mang tính khái quát, giỂpđề tài định hướng đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Chúng tôi dựa trên đó để xác định mục tiêu, phương pháp nghiên cứu hợp lý. Trang phục - trang phục cải lương tuồng cổ Trước hết, nên hiểu sự khác nhau cơ bản giữa trong phục và phục trang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ