CHƯƠNG 1 GVHD: T h.s TRAN THANH HƯƠNG So với toàn Ngành, Liên Hiệp Dệt, Tổng công ty Dệt và Liên Hiệp các xí nghiệp may Việt Nam với 64 doanh nghiệp thành viên hoạt động trên phạm vi cả nước giữ vai trò chủ đạo, thể hiện trên các m ặt sau : v ề thiết bị kéo sợi chiếm 100%, hơn 11000 máy dệt các loại, sản xuất trên 80% vải lụa thành phẩm, hơn 60% thiết bị may, sản xuất trên 50 triệu sản phẩm. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 100%. Bảo đảm 100% bông xơ và sợi cho toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt, may trong cả nước.3 Từ 1991 - 1999 : sản xuất kinh doanh trong cơ c h ế thị trường theo định hướng XHCN : Tuy quy mô công suất thiết bị đã tăng lên nhanh chóng trong thời kỳ k ế hoạch hóa, nhưng do mới chỉ làm ra được những sản phẩm chất lượng trung bình và thấp nên khi chuyển sang cơ ch ế thị trường, ngành Dệt - May Việt Nam đứng trước những khó khăn hết sức to lớn: thiết bị cũ kỹ, lạc hậu đã sử dụng 30-40 năm, máy dệt đa phần khổ nhỏ, tiêu hao năng lượng và lao động cao, thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ và thiếu kỹ năng quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Nhưng nhờ có đường lốì đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được sự phốỉ hợp của các bộ, ngành trong việc mở thị trường mới, cùng với tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công nhân, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp thiết bị cũ và đầu tư công nghệ mới để sản xuất ra những sản phẩm theo yêu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, với luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, các xí nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực dệt may. Trong vòng 10 năm, có gần 170 dư án với số vốn đăng ký hơn 1600 SVTH: NGUYỄN NGỌC HÀ 13 CHƯƠNG 1 GVHD: T h .s TRAN THANH HƯƠNG đăng ký hơn 1600 triệu USD, đã góp phần làm cho ngành Công nghiệp Dệt - May Việt Nam có sự phát triển mới cả về quy mô, trình độ công nghệ, mẫu mã hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu. Vì vậy, đến cuối năm 1999, hơn 30% thiết bị dệt và 95% thiết bị may đã được đầu tư bằng thiết bị, công nghệ tiên tiến. Công suất kéo sợi đạt 177 ngàn tấn, đã sản xuất gần 100 ngàn tấn, trong đó có các loại sợi chi sô" cao cho hàng dệt kim và dệt vải cao câ"p.
Tổng sản lượng vải đạt hơn 500 triệi mét, sản phẩm dệt kim đạt 34 ngàn tấn, khăn bông 10 ngàn tấn, mền chăn 1 triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu m ét vuông, sản phẩm may khoảng 250 triệu sản phẩm may. Tổng sô" lao động sử dụng gần 1 triệu người, trong đó sô" có trình độ kỹ sư trở lên hơn 300 người. Có 2 viện và 1 trung tâm nghiên cứu, 4 trường đào tạo trung học và công nhân lành nghề. Từ năm 1991 - 1999, ngành dệt - May Việt nam có những thay đổi về chất râ"t quan trọng, về thiết bị công nghệ đến sản phẩm ( nhất là công nghệ may và sản phẩm may).
Từ chổ chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước và thực hiện một phần theo nghị định thư với liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đầu vào, đầu ra do Nhà nước quết định. Các doanh nghiệp Dệt — May Việt Nam đã thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối, từ chọn mua nguyên phụ liệu, tổ chức sản xuâ"t đến tiêu thụ sản phẩm, tự định giá mua giá bán. Đến nay, sản phẩm dệt may đã thõa mãn phần nào nhu cầu tiêu dùng trong nước và có kim ngạch xuất khẩu lớn sang các thị trường EƯ, NHẬT BẢN, MỶ, CANADA. Thời kỳ 1991 -1999, toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10% năm.
Kim ngạch xuất khẩu luôn đạt thứ hạng cao trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, đạt gần 1,7 tỷ USD ( năm 1999), gần 2 tỷ USD (trong năm 2000), trong đó hơn 60% xuất khẩu sang thị trường phi hạn ngạch, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tạo việc làm cho gần 1 triệu lao SVTH: NGUYỄN NGỌC HÀ 14 CHƯƠNG 1 GVHD: T h.s TRAN THANH HƯƠNG ngạch, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tạo việc làm cho gần 1 triệu lao động công nghiệp, chưa kể sô" lao động sản xuất nguyên liệu, trồng bông, trồng đay, trồng dâu , nuôi tằm. Tuy mới được thành lập, lại bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực cũng như cơ chế quản lý, nhưng tổng công ty Dệt -M a y Việt Nam đã tập trung thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, có lên quan đến toàn bộ hệ thống doanh nghiệp thành viên trong sản xuẩt, kinh doanh.
Tổng công ty đã phát huy vai trò điều tiết trong đầu tư, sản xuất và kinh doanh của các đơn vị thành viên nhằm : - Chiếm lĩnh thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu. - Tích cực phát triển lực lượng sản xuất mới, thu hút nhiều lao động. - Đẩy mạnh đầu tư chiều sâu và đầu tư mở rộng theo nhu cầu thị trường và định hướng phát triển của toàn tổng công ty. - Tập trung phát triển nguồn nguyên liệu để chủ động sản xuất và tạo việc làm cho nông dân.
- Chăm lo công tác đào tạo và nghiên cứu ứng dụng. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổng công ty, các doanh nghiệp thành viên đã từng bước đổi mới công nghệ, phát triển ổn định và trưởng thành vượt bậc. Năm 1999 so so với năm 1995 tổng công ty đạt mức tăng sản lượng sợi hơn 40%, vải 19% và sản hẩm may tăng 37%, chất lượng sản phẩm được nâng cao, mẫu mã, kiểu dáng đa dạng, phong phú. Tuy sô" lượng không nhiều nhưng giá trị tăng cao, thể hiện giá trị tổng sản lượng toàn tổng công ty tăng hơn 70%, kim ngạch xuất khẩu tăng gần 40%, nộp ngân sách tăng gần 26%, đã có 16 doanh nghiệp ( so với 24 doanh nghiệp trong ngành ) đạt kim ngạch xuất khẩu trên lOtriệu USD.
Vị thê" và uy tín công ty ngày càng dược khẳng định. Đến 31/12/1999, tổng giá trị SVTH: NGUYỄN NGỌC HÀ 15 CHƯƠNG 1______________________________GVHD: Th.s TRAN THANH HƯƠNG 31/12/1999, tổng giá trị tài sản của công ty là. Tổng công ty đã vay vốn dầu tư hơn 3500 tỷ đồng đã trả nợ gần 2000 tỷ đồng, vốn tự bổ sung của Tổng công ty 2491 tỷ đồng. Sức mạnh tổng công ty àng thể hiện rõ nét hơn trong việc tập trung sức cùng Chính Phủ và các Bộ, ngành hữu quan tháo gỡ khó khăn cho một số* doanh nghiệp quy mô quá lớn chưa thể thích ứng ngay với cơ chế mới như Dệt Nam Định, Dệt 8/3.
đã tiếp nhận và tổ chức lại sản xuất cho một số doanh nghiệp địa phương. Với những thành quả đạt được trên chặng đường xây dựng và phát triển cùng quyết tâm thực hiện thắng lợi chiến lược tăng tốc đến năm 2010, ngành Dệt - May nói chung và Tổng công ty Dệt - May Việt Nam nói riêng đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.2 Phân tích thực trạng hoạt động ngành may Việt Nam 1.1 v ề thiết bị công nghệ: Trình độ công nghệ của ngành Dệt so với các nước trong khu vực khoảng 1 0 - 1 5 năm. Hơn 80% nguyên phụ liệu sản xuất đều phải nhập từ nước ngoài, đây là một vấn đề cần quan tâm. Ngành may đã đổi mới 90 - 95% sô" thiết bị nhưng khả năng tự động hoá quá trình sản xuất chỉ ồ mức trung bình.
Công nghệ cắt may còn lạc hậu so với các nước trong khu vực 5 năm.2 v ề năng suất: Năng suất lao động cũng rất thấp, chỉ đạt khoảng 50 - 70% so với các nước trong khu vực. Doanh nghiệp còn lãng phí thời gian, sức người rất lớn. Thời SVTH: NGUYỄN NGỌC HÀ 16 CHƯƠNG 1 GVHD: T h .s TRAN THANH HƯƠNG gian hoàn tất công đoạn may ở nước ta chưa cao. Vì vậy, không ít công nhân may Việt Nam đã làm quá thời gian mà Luật Lao Động cho phép.3 v ề đội ngũ lao động: Hiện nay, đội ngũ cán bộ công nhân ngành may thiếu cả về sô" lượng lẫn chất lượng.
Sô" lượng kỹ sư Công nghệ may chưa đủ đáp ứng nhu cầu hiện nay. Lợi thê" của nước ta là nguồn nhân lực dồi dào, tuy nhiên do xu hướng phát triển của nền kinh tê" chỉ tập trung ở những thành phô" lớn gây mất cân đôi về nguồn nhân lực. Hiện nay, theo đánh giá của Hiệp Hội Dệt May Việt Nam thì khoảng 70% nhân lực tập trung ở các huyện ngoại thành, các tỉnh, thành phô".4 v ề Nguyên Phụ Liệu: Suốt 10 năm qua, xuâ"t khẩu của ngành dệt-may liên tục tăng với tốc độ cao đã đưa Việt Nam vào danh sách những nhà xuất khẩu lớn của khu vực. Trong khi đó, Nguyên Phụ Liệu cung câ"p cho ngành may lại phát triển rất chậm.
Sô" liệu thông kê cuối năm 2000, tổng cộng khôi lượng sợi của Việt Nam sản xuất chỉ có 58 ngàn tân, vải là 304 triệu mét, đáp ứng nhu cầu của ngành may xuất khẩu chỉ khoảng 10-15%. Các loại Nguyên Phụ Liệu cho ngành dệt-may như xơ, sợi, hoá chất, thuốc nhuộm, phụ liệu may hầu hết là nhập khẩu. Việt Nam đầu tư khá nhiều vào ngành dệt, đã đầu tư 300 triệu USD để đưa năng lực sản xuất sợi, vải tăng thêm 40%.5 v ề cơ câu sản phẩm: Sản phẩm may mặc nước ta phong phú về màu sắc, chủng loại. và được có mặt khắp nơi trên thị trường.
Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của SVTH: NGUYỄN NGỌC HÀ 17 CHƯƠNG 1 GVHD: T h.s TRAN THANH HƯƠNG người tiêu dùng. Chất lượng hàng may mặc nước ta chưa đều và còn thấp so với các nước trong khu vực. Đ ể đáp ứng nhiều hơn nữa nhu cầu tiêu dùng trong nước, các công ty, xí nghiệp cần quan tâm hơn nữa để thoã mãn nhu cầu khách hàng.6 Thực trạng thị trường nộỉ địa: Thị trường trong nước hiện nay vô cùng sôi động với đầy đủ các mặt hàng may sẩn phục vụ nhu cầu con người. Tuy nhiên, hàng may mặc công nghiệp nước ta chỉ mới đáp ứng 10-15% nhu cầu tiêu dùng.
Hàng may mặc Việt Nam còn quá nghèo nàn về chủng loại sản phẩm so với các nước khác, chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. M ặt khác, do hàng nhập khẩu tràn vào thị trường với nhiều mẫu mã phong phú, tuy giá cao nhưng vẫn được người tiêu dùng quan tâm.