CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm Các dịch vụ ngân hàng trên thế giới đã thực sự bùng nổ trong vòng 10 năm trở lại đây và làm thay đổi cách tiếp cận về các hoạt động cơ bản của một NHTM.
Các NH trong khu vực và trên thế giới đã phát triển hoạt động hướng theo đối tượng KH, đây là một xu thế tất yếu vì nó đảm bảo quản lý rủi ro hữu hiệu hơn, các dịch vụ được cung ứng một cách tốt nhất cho từng đối tượng KH, công tác kinh doanh, thị trường, sản phẩm mục tiêu có định hướng rõ ràng giúp NH đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu. Từ những lý do trên, cơ cấu tổ chức hoạt động của các ngân hàng có sự thay đổi, theo đó, NH phát triển theo mô hình khối, bao gồm hai khối chính là “khối NHBL - phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân” và “khối NH bán buôn - phục vụ khách hàng tổ chức”. Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” xuất phát bởi từ gốc tiếng Anh “Retail banking” được đưa vào sử dụng tại Việt Nam trong những năm đầu của thập kỷ 90. Mặc dù vậy, khái niệm này không hàm ý về một lĩnh vực hoạt động mới của NH mà là những hoạt động của NH nhằm phục vụ cho đối tượng KH cá nhân.
Đã có một số quan điểm khác nhau khi đề cập tới hoạt động NHBL, có quan điểm cho rằng: “Hoạt động bán lẻ là những hoạt động giao dịch của ngân hàng phục vụ khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ” hoặc theo một quan điểm khác thì “Retail banking - hoạt động NHBL/nghiệp vụ NHBL là những dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân”. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả thì: “Hoạt động bán lẻ của NHTM là hoạt động cung ứng các sản ph m dịch vụ phục vụ đối tượng KH cá nhân và hộ gia đình 7 thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu liên quan đến quá trình sử dụng nguồn tài chính của các cá nhân và hộ gia đình trong xã hội. Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngân hàng bán lẻ a) Hoạt động ngân hàng bán lẻ có tính đa dạng > Nhu cầu đa dạng của khách hàng Hoạt động ngân hàng bán lẻ phục vụ số luợng KH rất đông, có thể đến hàng chục triệu KH. Tại các nuớc phát triển, dịch vụ NH rất hoàn thiện vì vậy, KH cá nhân của NH bao gồm hầu hết các công dân bắt đầu từ tuổi truởng thành.
Căn cứ vào thu nhập, nguời ta phân chia thành nhóm đối tuợng KH cá nhân có thu nhập rất cao, nhóm có thu nhập tuơng đối cao và nhóm KH đại chúng. Căn cứ vào nghề nghiệp có nhóm các chủ doanh nghiệp, tiểu thuơng, cán bộ công nhân viên chức, nhóm tri thức, sinh viên, nhóm công nhân. Căn cứ theo tuổi tác, KH của NH có thể là những nguời lớn tuổi huu trí hay những nguời đang trong độ tuổi lao động, thanh niên hoặc vị thành niên có nguời giám hộ. KH cá nhân bao gồm nhiều tầng lớp có đặc điểm khác nhau về: thu nhập, chỉ tiêu tài chính, độ tuổi, trình độ dân trí, hiểu biết về ngân hàng, nghề nghiệp tâm lý xã hội.
do đó nhu cầu về dich vụ NH cũng rất đa dạng khác nhau. > Sản phẩm dịch vụ rất đa dạng Xuất phát từ nhu cầu của KH, các NH đã phát triển và thay đổi không ngừng để đua ra nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau từ các dịch vụ truyền thống đến các sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại nhằm thỏa mãn yêu cầu riêng biệt của các nhóm KH. Hàng loạt các sản ph m dịch vụ thuộc các nhóm dịch vụ nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, NH điện tử, ủy thác đầu tu, bảo lãnh, bảo quản vật có giá, mua bán ngoại tệ đuợc phát triển không ngừng. Tại các nuớc phát triển số luợng sản ph m dịch vụ NH dành cho KH cá nhân lên tới hàng nghìn nhằm phục vụ nhu cầu rất đa dạng của KH.
> Kênh phân phối sản phẩm dịch vụ đa dạng Hoạt động bán lẻ của NH phụ thuộc nhiều vào mạng luới đa kênh phân phối của NH. Với xu thế phát triển mạnh của công nghệ thông tin, ngày nay khách hàng 8 có thể tiếp cận sản phẩm dịch vụ cảu NH qua rất nhều kênh nhu chi nhánh, phòng giao dịch, ATM, Internet, điện thoại, Kios, POS. Việc đa kênh phân phối trong hoạt động bán lẻ ngày càng đem lại thuận tiện cho KH, đồng thời cũng tiết kiệm chi phí cho NH và toàn xã hội. b) Hoạt động ngân hàng bán lẻ yêu cầu sự ổn định về chất lượng Việc đảm bảo sự ổn định về chất luợng là nhân tố quyết định thiết lập lòng tin của KH, đặc biệt đó là vấn đề nhạy cảm của hoạt động NH trong kinh tế thị truờng nhằm duy trì KH đã có và phát triển thị truờng tiềm năng.
Các yêu cầu, thỏa thuận của KH có thể xảy ra đối với từng dịch vụ, từng giao dịch, từng thời điểm hoặc định kỳ những luôn phải đảm bảo xử lý kịp thời, chính xác, an toàn. Đây là những yếu cầu phải tuân thủ thuờng xuyên trong mọi điều kiện. Sự ổn định về chất luợng còn thể hiện ở việc triển khai áp dụng các văn bản quy định thực hiện nhất quán trong một ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Các NH có tiêu chí đánh giá chất luợng dịch vụ, tiêu chuẩn hóa các yêu cầu từ trang trí, mẫu giấy tờ, thời gian xử lý giao dịch cho đến chính sách giá,.
đuợc tiêu chu n hóa và áp dụng thống nhất trong một ngân hàng. NH phải có chiến luợc và giải pháp ứng phó phù hợp, kịp thời, hiệu quả, phải đào tạo nguồn nhân lực am hiểu về sản phẩm dịch vụ và tính tuơng tác của sản phẩm dịch vụ này trên hệ thống để kịp thời giải quyết các thắc mắc của khách hàng. Vấn đề vi phạm chất luợng dịch vụ có thể xảy ra do lỗi kỹ thuật, đối tác hoặc cán bộ ngân hàng, nhung các NH phải có giải pháp hạn chế tối đa và phải xử lý kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho KH. c) Hoạt động ngân hàng bán lẻ tuân theo luật số lớn Với đặc thù phục vụ số luợng rất lớn khách hàng, sản ph m dịch vụ đa dạng nên mặc dù giá trị của từng giao dịch thuờng không lớn nhung số luợng giao dịch phát sinh rất nhiều.
Số luợng các kênh giao dịch phải đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của rộng khắp dân cu trong xã hội. Luợng cán bộ phục vụ trong hoạt động bán lẻ cũng lớn vì số luợng giao dịch phát sinh nhiều, phục vụ nhiều khách hàng tại một thời điểm. 9 d) Hoạt động ngân hàng bán lẻ mang tính thời điểm rất cao Hoạt động NH nói chung không thể tạo ra hàng loạt các sản phẩm lưu kho như các ngành kinh doanh khác. Với đặc trưng phục vụ đối tượng chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình nên hoạt động ngân hàng bán lẻ mang tính thời điểm rất cao.
Tính thời điểm thể hiện ở việc NH chọn thời điểm nào thì đưa ra sản phẩm mới, quyết định giảm phí, tăng lãi suất hay có chương trình khuyến mại phù hợp nhất với nhu cầu của KH. Ví dụ, KH được nhận quà tặng khi nhận tiền kiều hối dịp tết cuối năm, miễn phí phát hành thẻ cho sinh viên khi năm học mới bắt đầu hay KH thường chi tiêu thẻ nhiều vào những ngày nghỉ, lễ. Tính thời điểm còn thể hiện ở tính cập nhật thông tin về sản ph m dịch vụ của NH, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của KH, cập nhật các thông tin về cá nhân khách hàng khi có thay đổi. Trong việc cung câp dịch vụ thanh toán, các yêu cầu phổ biến nhất của khách hàng là các ủy nhiệm chi, chuyển tiền, thanh toán qua thẻ,.
phải được xử lý hạch toán và hoàn tất trong một thời gian nhất định, hoặc ngay khi KH thực hiện lệnh thanh toán. Vì vậy NH cần nhanh nhạy trong việc dự đoán và xác định thời điểm để có kế hoạch đưa sản phẩm dịch vụ ra thị trường để thu hút được nhiều KH và hiệu quả nhất, đồng thời có sự cập nhật nhanh nhất các thay đổi từ phía NH và KH nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ. e) Hoạt động ngân hàng bán lẻ có chi phí lớn Các chi phí cho hoạt động ngân hàng bán lẻ rất lớn, bao gồm chi phí thuê mặt bằng trụ sở, chi nhánh, điểm giao dịch: chi phí trả lương cán bộ, mua máy móc thiết bị như máy tính, hệ thống Core Banking, ATM, POS. Nhìn chung các chi phí ngày càng tăng cùng với nhu cầu sử dụng dịch vụ càng lớn của KH, số lượng giao dịch phát sinh ngày càng nhiều cũng như sự phát triển mạng lưới các kênh phân phối ngày càng rộng.
Vì vậy để phát triển hoạt động bán lẻ một cách có hiệu quả nhất, các NHTM đang không ngừng đưa ra các giải pháp để giảm thiểu tối đa các chi phí phát sinh trong hoạt động bán lẻ như tăng cường các kênh phân phối tự phục vụ (khách hàng tự phục vụ các nhu cầu giao dịch của mình), gia tăng các tiện ích cho sản ph m dịch vụ. 10 ff Hoạt động ngân hàng bán lẻ có những rủi ro nhất định Rủi ro là khả năng xảy ra những sự cố trong tương lai làm cho NH không thể đạt được mục tiêu đã đề ra và/hoặc gây tổn thất cho NH. Trên thực tế, các NH chịu rủi ro trong quá trình kinh doanh nói chung và hoạt động bản lẻ nói riêng. Những rủi ro đó luôn tồn tại, không thể loại trừ ra khỏi môi trường kinh doanh, NH chỉ có thể phân tích, tìm ra các nguyên nhân, có giải pháp phòng ngừa, hạn chế sự tác động của rủi ro tới hoạt động kinh doanh.
Trong hoạt động bán lẻ thường có những rủi ro chủ yếu sau: > Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản do khách hàng vay vốn/được cấp tín dụng không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ những cam kết đã ký với NH bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.