Phần mở đầu; 3 chƣơng (7 tiết); phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI, XỬ LÝ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG Ở ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI 1. Cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội và suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội 1. Cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội 1.Quan niệm về Đảng bộ Quân đội Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và lãnh đạo.
Việc lãnh tụ Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22.1944 là dấu mốc lịch sử trọng đại của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, theo Quy định số 49-QĐ/TW ngày 22/12/2021 của Bộ Chính trị về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hoạt động theo Cƣơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc. Hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội đƣợc lập tƣơng ứng với hệ thống tổ chức của Quân đội, cụ thể nhƣ sau: Toàn quân có Quân ủy Trung ƣơng do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số ủy viên Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng công tác trong Quân đội và một số ủy viên Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng công tác ngoài Quân đội, đặt dƣới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng mà thƣờng xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ. Ban Thƣờng vụ Quân ủy Trung ƣơng có số lƣợng từ 7 đến 9 đồng chí.
Đồng chí Tổng Bí thƣ là Bí thƣ Quân ủy Trung ƣơng. Sau đại hội toàn quốc của Đảng, căn cứ vào Điều lệ Đảng và sự phân công công tác của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ƣơng nhiệm kỳ trƣớc chủ trì, 13 phối hợp với Ban Tổ chức Trung ƣơng đề nghị Bộ Chính trị chỉ định Quân ủy Trung ƣơng nhiệm kỳ mới. Nhiệm kỳ của Quân ủy Trung ƣơng đƣợc tính từ khi Bộ Chính trị chỉ định và kết thúc khi Bộ Chính trị có quyết định chỉ định Quân ủy Trung ƣơng nhiệm kỳ mới. Các cấp ủy đảng (từ cấp trực thuộc Quân ủy Trung ƣơng đến chi bộ) ở cấp nào do đại hội đảng bộ (chi bộ) cấp đó bầu.
Hội nghị đảng ủy bầu ban thƣờng vụ có số lƣợng ủy viên không quá một phần ba tổng số cấp ủy viên cùng cấp, bầu bí thƣ, phó bí thƣ trong số ủy viên ban thƣờng vụ; bầu ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Cấp ủy cấp trên trực tiếp, nơi có ban thƣờng vụ thì ban thƣờng vụ chuẩn y ban chấp hành, ban thƣờng vụ, bí thƣ, phó bí thƣ cấp ủy; các thành viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp dƣới; trƣờng hợp đặc biệt do cấp ủy hoặc ban thƣờng vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định. Đảng bộ Quân đội thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quy định theo Điều lệ Đảng (lãnh đạo thực hiện Cƣơng lĩnh chính trị, Điều lệ, các nghị quyết, chỉ thị, hƣớng dẫn của Đảng, và Quân uỷ Trung ƣơng…). Quan niệm về cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội Tại Điều 1, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm năm 2014) quy định: Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sau đây gọi chung là sĩ quan) là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, đƣợc Nhà nƣớc phong quân hàm cấp Úy, cấp Tá, cấp Tƣớng [44, tr.
Sĩ quan là những ngƣời phục vụ trong lực lƣợng vũ trang đƣợc phong hàm cấp uý, cấp tá và cấp tƣớng; đƣợc chia thành hai ngạch sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị. Sĩ quan thƣờng đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các tổ chức quân sự; hoặc làm nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo, giảng dạy các 14 chuyên ngành đặc thù quân sự; hoặc trực tiếp đảm nhiệm các nhiệm vụ quân sự đặc biệt; hƣởng lƣơng theo quân hàm, chức vụ và thâm niên công tác trong quân đội. Cán bộ là quân nhân chuyên nghiệp đƣợc bố trí đảm nhiệm các chức danh thuộc lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ đặc thù quân sự đòi hỏi phải là quân nhân. Họ đƣợc hƣởng lƣơng theo trình độ học vấn, chức vụ và thâm niên công tác trong quân đội.
Cán bộ là Công chức quốc phòng, đảm nhiệm các chức danh thuộc lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ tƣơng ứng với các ngành nghề dân sự. Hƣởng lƣơng theo ngạch bậc công chức nhà nƣớc và phụ cấp ƣu đãi quốc phòng. Theo đó, đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam là những cán bộ của Đảng, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng đƣợc bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp trung đội, trợ lý cơ quan từ cấp tiểu đoàn và tƣơng đƣơng trở lên; cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong hệ thống nhà trƣờng quân đội; những ngƣời trực tiếp đảm nhiệm công việc có tầm quan trọng đặc biệt, có yêu cầu cao về trình độ học vấn (điệp báo, lái máy bay, bác sĩ điều trị v.) đƣợc đề bạt, bổ nhiệm, là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp hoặc công chức quốc phòng, đƣợc đào tạo bồi dƣỡng theo tiêu chuẩn chức danh và diện bố trí cán bộ, do các cấp ủy đảng trực tiếp quản lý theo phân cấp. Theo Điều 1, Chƣơng 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) quy định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tƣởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cƣơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao; có đạo đức và 15 lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng” [18].
Cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội là đội ngũ những ngƣời làm việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam vừa có chức trách, nhiệm vụ của ngƣời cán bộ, đảng viên nói chung vừa gắn liền với đặc điểm, nhiệm vụ của một tổ chức đảng hoạt động trong lĩnh vực đặc thù của xã hội (lĩnh vực hoạt động quân sự). Suy thoái đ ạ o đ ứ c, lố i số ng củ a cán bộ , đ ả ng viên ở Đ ả ng bộ Quân đ ộ i 1. Đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội * Đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con ngƣời đối với nhau và đối với xã hội; là phẩm chất tốt đẹp của con ngƣời do tu dƣỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có, thông qua đó con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con ngƣời và sự tiến bộ xã hội. Để duy trì sự tồn tại và phát triển, mỗi xã hội đều phải xây dựng những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức để mỗi con ngƣời tự giác tuân theo.
Song đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, do vậy nó biến đổi cùng với biến đổi của tồn tại xã hội, trƣớc hết là sự biến đổi của cơ sở kinh tế, xã hội.Ăngghen chỉ rõ: Chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trƣớc tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ. đạo đức luôn là đạo đức của giai cấp. 16 Đạo đức của CB, ĐV ở Đảng bộ Quân đội là đạo đức cách mạng, là tinh thần hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Quân đội, của Nhân dân, đƣợc biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau: Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của ngƣời CB, ĐV nói chung, đặc biệt với những CB, ĐV là CB, ĐV trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.
Đó còn là biểu hiện cao nhất của lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, là cơ sở để định hƣớng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nƣớc giao phó. Do đó, đối với mỗi CB, ĐV ở Đảng bộ Quân đội, trung với nƣớc phải luôn gắn liền với trung với Đảng, hiếu với dân. Đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, gắn bó mật thiết với nhân dân. Đoàn kết, nhân ái luôn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.
Ở thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đó đƣợc hun đúc và phát triển lên một tầm cao mới, là cơ sở để tạo thành sức mạnh vô địch của dân tộc, giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng mọi kẻ thù xâm lƣợc. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đây là một phẩm chất quan trọng, là nền tảng đạo đức của ngƣời quân nhân cách mạng nói chung, của ngƣời CB, ĐV ở Đảng bộ Quân đội nói riêng. Tinh thần quốc tế trong sáng là một nội dung không thể thiếu của đạo đức cách mạng. Lịch sử xây dựng và trƣởng thành của quân đội ta, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vƣợt qua mọi khó khăn, tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trƣờng Lào và Campuchia, viết nên những trang sử sáng ngời về đạo đức cách mạng của ngƣời cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.
* Lối sống của cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ Quân đội 17 Theo Đại Từ điển tiếng Việt, “lối” là: thói, cách [51, tr.1045]; “sống” là: cƣ xử, ăn ở với ngƣời đời [51,tr. Có thể hiểu, “lối sống” là toàn bộ lề thói, cách thức cƣ xử, ăn, ở của một ngƣời, một tập thể ngƣời trong xã hội, thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tƣ duy, lối ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời.