MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện tượng toàn cầu hóa hiện đại đã kích thích sự gia tăng đột biến số người di cư khắp thế giới. Sự phát triển của hệ thống vận tải hiện đại tinh vi và nhiều mạng lưới làm cho việc di cư trở nên một cách dễ dàng hơn, rẻ hơn và nhanh hơn cho con người. Nhưng, các vấn đề về xã hội và nhiều khía cạnh văn hóa vẫn có thái độ hướng về di cư, bên cạnh đó quan hệ giữa người bản xứ và người di cư thì không phải lúc nào cũng dễ dàng và rất khó để hòa nhập.
Đặc biệt, di cư do hôn nhân có ý nghĩa quan trọng hơn so với những người di cư lao động. Người di cư do hôn nhân có thể mang hai bản sắc là người di cư đến hoặc cũng có thể là người bản xứ. Hầu hết những người di cư do hôn nhân có ý định định cư lâu dài trong xã hội nước đến và có tiềm năng trở thành công dân của nước đến bằng cách nhập quốc tịch. Do đó, vấn đề di cư do hôn nhân cần được coi trọng hơn so với các loại hình di cư khác.
Vấn đề phụ nữ di cư đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới học thuật. Hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’ được quy định trong Luật Di cư Quốc tế có đặc điểm như sau: phụ nữ di chuyển qua biên giới một cách độc lập, không theo chồng hoặc các thành viên gia đình. Sự gia tăng của phụ nữ di cư đã đưa đến các hình thức di cư dễ bị tổn thương đặc trưng về giới, trong đó có di cư được tổ chức cho kết hôn qua môi giới. Ngoài ra, điểm nổi bật là có xu hướng phần lớn phụ nữ di cư có ‘xuất thân’ từ khu vực Châu Á (Kim Min Kyeong, 2011, tr.
Như vậy thì, hôn nhân Việt -Hàn có thể được coi là một ví dụ quan trọng về hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’ mà giới học thuật đáng chú ý. Vào cuối những năm 80, Hàn Quốc chuyển từ một quốc gia ‘xuất cư’ thành một quốc gia ‘nhập cư’ (Lee Hye Kyeong, 2010). Hôn nhân xuyên quốc gia giữa nam giới Hàn Quốc và phụ nữ châu Á, bắt đầu dưới hình thức hôn nhân xuyên quốc gia do chính quyền chủ đạo vào những năm 1990, vào những năm này dân số ở Hàn Quốc có xu thế giảm và nhiều nam giới ở vùng nông thôn khó tìm được đối tượng để kết hôn, vì thế mà chính quyền ở Hàn Quốc đã khuyến khích kết hôn với người nước ngoài, bùng nổ sau 2 năm 2000 và số lượng người di cư do hôn nhân và cư trú tại Hàn Quốc vào cuối năm 2020 đã tăng nhanh chóng lên 168. Trong đó, số người Việt Nam di cư do hôn nhân là 44.058 người và đa phần là nữ giới (40.863 người), chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau người Trung Quốc.
Các số liệu đã cho thấy người Việt Nam là 3.717 người nhập quốc tịch thông qua hôn nhân tại Hàn Quốc vào năm 2020 và người Trung Quốc kế tiếp là 1.1 Phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người nước ngoài định cư tại Hàn Quốc thông qua di cư do hôn nhân. Sau khi Lee Jasmin, một người nhập quốc tịch, được bầu làm nghị sĩ Quốc hội năm 2012 với tư cách là đại diện tỷ lệ, Won Ok Geum là một người nhập quốc tịch gốc Việt Nam đã gia nhập Đảng Dân chủ vào năm 2020, và trở thành chính trị gia. Động thái tuyển mộ người di cư trong giới chính trị sẽ là một bằng chứng cho thấy xã hội Hàn Quốc đang thay đổi. Hai người này là thế hệ đầu tiên của những người nước ngoài di cư do hôn nhân vào Hàn Quốc.
Cộng đồng người di cư đã chiếm một phần nhất định trong xã hội Hàn Quốc và đang tạo ra tiếng nói trong xã hội. Trong đó, những người di cư do hôn nhân đóng vai trò rất quan trọng. Mặt khác, năm 2019, vụ vợ Việt bị chồng Hàn Quốc hành hung tại Hàn Quốc đã gây bức xúc trong xã hội cả Hàn Quốc và Việt Nam. Mặc dù sau khi chính phủ Hàn Quốc tuyên bố ‘Chuyển đổi sang một xã hội đa văn hóa và đa sắc tộc’ vào năm 2006, cả chính phủ lẫn công dân Hàn Quốc nỗ lực rất nhiều để hòa nhập xã hội, nhưng việc hòa nhập giữa người bản xứ với người di cư vẫn gặp khó khăn.
Kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy những khó khăn mà người di cư do hôn nhân phải đối mặt trong quá trình định cư ở nơi đến, thường được bắt nguồn từ quá trình hôn nhân xuyên quốc gia bắt đầu từ nơi xuất phát. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc (Thông qua nhận thức của các cô dâu) để tìm hiểu thực trạng của đối tượng hôn nhân xuyên quốc gia. Mục đích nghiên cứu 1 2021년 출입국 외국인정책 통계연보 (Niên biểu Thống kê xuất nhập cảnh và chính sách người nước ngoài Hàn Quốc năm 2021) 3 Với tính cấp thiết của đề tài được nêu như trên, luận văn Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc (Thông qua nhận thức của các cô dâu) được thực hiện nhằm mục đích làm rõ những vấn đề liên quan đến hôn nhân Việt - Hàn và nguyên nhân phát sinh sự mâu thuẫn trong gia đình đa văn hóa Việt - Hàn, thông qua tìm hiểu chuyên sâu về tình trạng của các cô dâu Việt Nam trước khi di cư như nền tảng văn hóa, quá trình chuẩn bị di cư. Dựa vào đó, luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để giải quyết vấn đề liên quan đến hôn nhân Việt - Hàn.
(1) Câu hỏi nghiên cứu Thứ nhất, nền tảng văn hóa về mặt vật chất và tinh thần của các cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc như thế nào? Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến hôn nhân Việt -Hàn là nhà môi giới, cơ quan nhà nước liên quan và các tổ chức phi chính phủ được hình thành như thế nào và tác động đến quá trình di cư của cô dâu như thế nào? Thứ ba, quá trình chuẩn bị di cư của cô dâu Việt Nam như thế nào và trong đó hiểu biết và thái độ về Hàn Quốc và gia đình chồng của cô dâu Việt Nam như thế nào? (2) Giả thuyết nghiên cứu Thứ nhất, nền tảng văn hóa về mặt vật chất và tinh thần của các cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc có nét tương đồng và khác biệt so với văn hóa Hàn Quốc. Thứ hai, hầu như hôn nhân Việt - Hàn được thực hiện thông qua môi giới và trong quá trình đó, chính sách của chính phủ và hoạt động của các tổ chức ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Thứ ba, hiểu biết và thái độ về Hàn Quốc của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc có hạn chế vì quá trình hôn nhân Việt - Hàn thông qua nhà môi giới quá ngắn. Lịch sử vấn đề Nghiên cứu về đề tài ‘Di cư do hôn nhân’ hiện đại rất phong phú cả thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như Nhân học, Xã hội học, Phụ nữ học, v.
Chúng tôi phân loại nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài luận văn thành ba chủ đề sau: (1) Giới và di cư, (2) Đa văn hóa và hòa nhập văn hóa, (3) Hôn nhân Việt - Hàn. Trong xã hội công nghiệp hóa, những người làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn cần phải có sự trợ giúp của người làm việc nhà. Các gia đình mà cả hai cặp vợ chồng đều đi làm vẫn cần một ai đó để giúp việc nhà. Vấn đề phân công lao động theo giới ở các nước công nghiệp phát triển vẫn chưa được giải quyết.
Vấn đề này được chuyển sang phụ nữ ở các nước đang phát triển. Theo Hochschild, điều này là ‘Global care chain’. Sassen (2000) đề xuất khái niệm ‘Feminization of survival’. Khái niệm này nghĩa là hiện tượng phụ nữ bước lên lĩnh vực mưu sinh thay thế nam giới, bởi vì nghèo đói và thất nghiệp ở các nước đang phát triển dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa.
Sassen chia sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong quá trình toàn cầu hóa thành ba giai đoạn. Giai đoạn cuối cùng, phụ nữ chọn di cư như một phương tiện để duy trì sinh kế cho gia đình, và chịu đựng dù điều kiện di cư khắc nghiệt. Piper & Roces (2003) cho rằng di cư lao động và di cư do hôn nhân được phân biệt rõ ràng ở cấp độ pháp luật quốc gia, nhưng trên thực tế, rất khó tách biệt hai loại này trong cuộc sống của phụ nữ di cư. Hôn nhân xuyên quốc gia ngày càng có xu hướng tăng, từ khi toàn cầu hóa xuất hiện thì việc di chuyển xuyên quốc gia trở nên thuận tiện hơn.
Từ những năm 1970, ‘Cô dâu được môi giới qua thư ‘Mail-order bride (Cô dâu được môi giới qua thư)’ là một hiện tượng phổ biến ở các nước tiên tiến như Châu Âu, Úc. Từ thập niên 80 và 90, hiện tượng kết hôn môi giới đã lan rộng trên khắp thế giới, từ nước xuất phát điểm đến các nước hưởng ứng ngày càng đa dạng hơn. Ví dụ như hiện tượng phụ nữ Đông Âu di cư sang Tây Âu, phụ nữ Đông Á lấy chồng Nhật Bản v. Thật ra, các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia nêu trên thực chất là một hình thức di cư của phụ nữ, tức là di cư do hôn nhân.
Cho nên, sự gia tăng hôn nhân xuyên quốc gia là một phần của hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’. Kim Hyeon Mi (2006) coi hôn nhân xuyên quốc gia là một trong những vấn đề di cư. Trong khi các nghiên cứu có liên quan vào thời điểm đó đề cập đến tình huống mà phụ nữ di cư phải đối mặt tại Hàn Quốc, bà phân tích “Migration regime (Hệ thống di 5 cư)’ của hôn nhân xuyên quốc gia giữa Hàn Quốc và Việt Nam, trong đó tập trung vào quá trình di cư. Quyền lực đa tầng can dự vào quá trình mà phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân với đàn ông Hàn Quốc được phân tích một cách phê phán dưới góc độ giới.
Theo bà, sở dĩ có xu hướng nhìn nhận phụ nữ như ‘vật sở hữu’ có thể quản lý và kiểm soát hơn là coi phụ nữ là bạn đời và người đồng hành trong cuộc sống trong hôn nhân xuyên quốc gia hiện nay là vì cơ cấu hợp đồng phụ nhiều lớp của hệ thống môi giới hôn nhân xuyên quốc gia hiện nay.