MỞ ĐẦU. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG. “Năng lực ngôn ngữ” và “Năng lực giao tiếp”. Tiêu chí đánh giá năng lực tiếng Việt.
Một số vấn đề về chính sách đối với tiếng Việt và chính sách giáo dục tiếng Việt cho đồng bào dân tộc Chăm. Bức tranh tổng quát về người Chăm huyện An Phú. Khái quát về sự hình thành và phân bố dân cư của người Chăm huyện An Phú. Khái quát về đời sống người Chăm ở huyện An Phú.
Cảnh huống ngôn ngữ vùng đồng bào dân tộc Chăm huyện An Phú. Khái niệm “Cảnh huống ngôn ngữ”. Giới thiệu một vài nét về cảnh huống ngôn ngữ vùng đồng bào dân tộc Chăm huyện An Phú tỉnh An Giang. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHE, NÓI, ĐỌC, VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG.
Tình hình giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú tỉnh An Giang. Nhận xét chung về năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú tỉnh An Giang. Năng lực tiếng Việt qua tự cảm nhận của học sinh dân tộc Chăm. Mức độ thành thạo các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Tình hình sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú. Đường lối và phương pháp dạy học ở nhà trường. Vốn ngôn ngữ của trẻ em dân tộc Chăm.
Thái độ của gia đình và bản thân trẻ. KIẾN NGHỊ VỀ ĐỊNH HƯỚNG, BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG. Định hướng phát triển năng lực tiếng Việt cho học sinh dân tộc Chăm. Biện pháp nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú.
Biện pháp nâng cao năng lực tiếng Việt trong nhà trường. Biện pháp rèn - chữa lỗi sử dụng tiếng Việt ở các kỹ năng cụ thể. 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 116 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CP : chính phủ CT : chỉ thị DTTS : Dân tộc thiểu số HS : Học sinh KHXH&NV : Khoa học xã hội và nhân văn Nxb : Nhà xuất bản SL : Số lượng SV : Sinh viên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông TP : Thành phố TTg : Thủ tướng UBND : Ủy ban nhân dân UNICEF : United Nations Children’s Fund (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) VD : Ví dụ DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.
Phân bố dân cư Chăm ở huyện An Phú tỉnh An Giang. Thống kê dân tộc trên địa bàn huyện An Phú. Tình hình đến trường của học sinh dân tộc Chăm trong 5 năm qua. Nguyên nhân bỏ học của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú.
Thống kê số HS, SV đang học các trường Trung cấp, Cao Đẳng, Đại học. Thống kê học sinh dân tộc Chăm theo thành phần dân tộc trong gia đình. Năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Chăm ở các trường. Mối tương quan giữa tình trạng kinh tế gia đình với năng lực tiếng Việt.
Mối tương quan giữa sách báo tiếng Việt với năng lực tiếng Việt. Mức độ thành thạo các kỹ năng của học sinh dân tộc Chăm. Mức độ thành thạo các kỹ năng tiếng Việt của học sinh ở các trường. Thống kê lỗi thanh điệu qua các mẫu ghi âm.
Thống kê lỗi chính âm qua các mẫu ghi âm. Thống kê điểm Đọc hiểu qua khảo sát bài kiểm tra. Thống kê số lượng bài kiểm tra viết của học sinh dân tộc Chăm. Thống kê những lỗi chính tả thường mắc của học sinh dân tộc Chăm.
Thống kê các lỗi từ vựng thường mắc của học sinh dân tộc Chăm. Thống kê cấu trúc cú pháp quen dùng của học sinh dân tộc Chăm. Mức độ giao tiếp ngôn ngữ trong gia đình và cộng đồng. Mức độ giao tiếp ngôn ngữ trong trường học.
90 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2. Thống kê học sinh dân tộc Chăm theo địa bàn cư trú. Thống kê học sinh dân tộc Chăm theo tình trạng kinh tế gia đình. Thống kê học sinh dân tộc Chăm theo xếp loại học lực.
Năng lực tiếng Việt qua cảm nhận của học sinh dân tộc Chăm. Các kỹ năng thường gặp khó khăn khi sử dụng. Tác động của phương tiện nghe nhìn đến việc sử dụng tiếng Việt. Mức độ hiểu biết khi nghe thầy cô giảng bài.
Lý do chọn đề tài Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2013) đã xác định rõ vị thế của tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia tại mục 3 Điều 5: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Có thể nói, việc khẳng định vị thế và chức năng giao tiếp quốc gia của tiếng Việt sẽ giúp cho tiếng Việt có điều kiện được bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa, trở thành công cụ giao tiếp chung của toàn dân tộc Việt Nam, giúp cho việc nâng cao dân trí của người dân Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng vị thế quốc gia của tiếng Việt chính là phải giáo dục và truyền bá tiếng Việt, trong đó chú trọng tới giáo dục tiếng Việt cho người DTTS, giúp cho các DTTS ở Việt Nam có thể sử dụng tốt tiếng Việt, phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng.
Trong nhà trường, giáo dục tiếng Việt bao gồm 2 nội dung cơ bản: tiếng Việt với tư cách là một môn học và tiếng Việt với tư cách là công cụ để dạy học. Điều này có ý nghĩa là, tất cả học sinh Việt Nam đều được quyền thụ hưởng giáo dục để biết tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt trong học tập. Tuy vậy, việc áp dụng mô hình giáo dục cho học sinh DTTS theo cách dạy – học tiếng Việt và dạy – học bằng tiếng Việt theo chương trình giáo dục, sách giáo khoa chung trong cả nước nhìn chung chưa đạt hiệu quả. Bởi vì, tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh DTTS mà là ngôn ngữ thứ hai.
Vì vậy, có không ít khó khăn trong việc tiếp thu tiếng Việt của học sinh DTTS. Các nghiên cứu về giáo dục tiếng Việt cho học sinh DTTS đều chỉ ra rằng, “rào cản ngôn ngữ” là nguyên nhân chủ yếu đưa đến tình trạng bỏ học ở học sinh DTTS. Về điều này, chuyên gia tư vấn về giáo dục thuộc tổ chức UNICEF là Kimmo Kosonen đã nhận xét sau khi khảo sát GDNN ở các vùng DTTS Việt Nam như sau: “Ở Việt Nam (…) những học sinh có trình độ tiếng Việt ban đầu chỉ được dạy bằng tiếng Việt, đặc biệt là sau cấp tiền học đường. Hơn nữa, hệ thống giáo dục hiện tại buộc những học sinh này phải học được kỹ năng đọc viết cơ bản bằng thứ tiếng mà chúng chưa nói hoặc hiểu được.
Kết quả là nhiều học sinh DTTS bị bỏ xa so với những bạn học người Kinh khác ngay từ ngày học đầu tiên dù không phải lỗi của chúng. Chúng 2 phải mất hai năm mới có thể hiểu đầy đủ lời giảng của giáo viên và trong khoảng thời gian đó chúng nắm được rất ít nội dung kiến thức môn học. Và nhiều học sinh đã phải bỏ học…”[40;30]. Như vậy, sự thiếu hụt các kỹ năng ngôn ngữ đã khiến học sinh DTTS không thể duy trì sự tham gia học tập ở nhà trường phổ thông.
An Giang là một tỉnh đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Trong đó, dân tộc Chăm là DTTS chiếm số đông thứ hai với khoảng 14.209 người, chiếm tỷ lệ 0,66% dân số của tỉnh [6]. Riêng huyện An Phú có đến 7.367 người [6], là huyện có số nhân khẩu dân tộc Chăm đông nhất trong tỉnh An Giang. Nhiều năm qua, công tác dạy học tiếng Việt cho đồng bào dân tộc Chăm huyện An Phú đã được quan tâm với nhiều cách làm ở nhiều mức độ khác nhau.
Song kết quả chưa đạt được như mong muốn. Theo báo cáo của Phòng Giáo dục huyện An Phú, mặc dù học sinh dân tộc Chăm được miễn tất cả các loại phí và được hỗ trợ các chi phí trong học tập nhưng tình trạng học sinh bỏ học và học lực yếu kém vẫn còn cao. Chỉ tính riêng năm 2013, số học sinh dân tộc Chăm bậc Tiểu học đã giảm 76 em (41,08%), THCS giảm 41 em (tỷ lệ 22. Nếu tính tổng số học sinh dân tộc vào lớp 1 là 129 em, đến tốt nghiệp THCS chỉ còn lại 12 em (tỷ lệ chỉ đạt 9,03% - giảm 117 em).
Trong số các nguyên nhân bỏ học ở học sinh dân tộc Chăm thì nguyên nhân “học kém nên chán học” chiếm tỷ lệ cao nhất (22,52%) [57]. Điều đó có nghĩa là năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu học tập trong nhà trường. Tuy nhiên, xét về mặt khoa học lại chưa có minh chứng nào cụ thể cho thấy năng lực tiếng Việt thực tế của học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú. Học sinh dân tộc Chăm có thể sử dụng tiếng Việt ở mức độ như thế nào? Có đáp ứng được yêu cầu học tập và trong thực tế giao tiếp đời sống hay không? Những kỹ năng nào còn yếu kém cần phải được bồi dưỡng? Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên? Ở bậc Trung học, học sinh dân tộc Chăm đã thực sự thoát khỏi rào cản ngôn ngữ hay chưa? Những câu hỏi này cần được trả lời một cách thỏa đáng dưới góc độ khoa học để làm cơ sở cho những chính sách, kế hoạch tăng cường giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc Chăm huyện An Phú, khắc phục được tình trạng mò mẫm, thiếu định hướng trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách giáo dục dân tộc ở huyện An Phú hiện nay.
Đặc biệt, nghiên cứu này sẽ có tác dụng định hướng cho việc đổi mới dạy học nói chung (trong đó có dạy học 3 Ngữ Văn) theo hướng phát triển năng lực – một nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI).