Tổng quan nghiên cứu

Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc có địa bàn phân bố rộng, giao thông chia cắt phức tạp, với hơn 86% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 7 dân tộc chính sinh sống xen kẽ. Toàn tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm tới gần 50% tổng số hộ, trong đó 92,4% số hộ nghèo rơi vào cộng đồng dân tộc thiểu số và hơn 80% lực lượng lao động phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất nông - lâm nghiệp. Trong bối cảnh hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, địa phương tồn tại nhiều vùng lõm thông tin khoa học - kỹ thuật, phương thức tuyên truyền truyền thống như các lớp tập huấn tập trung hay tài liệu in ấn chưa phát huy tối đa hiệu quả do tỷ lệ biết chữ còn hạn chế và rào cản ngôn ngữ.

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận báo chí chuyên biệt, khảo sát toàn diện diện mạo, cơ cấu, quy trình sản xuất và hình thức thể hiện chương trình; từ đó đánh giá chính xác ưu điểm, hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông khoa giáo phục vụ đồng bào vùng cao.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các chương trình truyền hình khoa giáo phát sóng trên Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn trong giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2014, với địa bàn khảo sát thực địa tại các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Na Rỳ và Bạch Thông. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa khung phát sóng 18 giờ mỗi ngày của đài địa phương, nâng cao khả năng tiếp cận tri thức sản xuất cho hơn 86% cư dân dân tộc thiểu số, trực tiếp đóng góp vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và củng cố an ninh tư tưởng trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận báo chí truyền thông hiện đại và hệ thống quan điểm lý luận báo chí cách mạng, tập trung vào hai khung lý thuyết nòng cốt:

Học thuyết dòng chảy thông tin hai bước làm sáng tỏ phương thức lan tỏa thông điệp truyền hình trong cộng đồng miền núi. Tại Bắc Kạn, thông tin khoa giáo từ màn ảnh nhỏ thường được tiếp nhận và diễn giải lại qua đội ngũ 1.354 già làng, trưởng bản và người có uy tín tại cơ sở, từ đó tạo ra tác động sâu rộng đến nhận thức của từng hộ gia đình.

Lý thuyết chức năng báo chí truyền thông xã hội nhấn mạnh chức năng khai sáng, giáo dục tư tưởng và nâng cao dân trí của báo hình. Đây là cơ sở xác định vai trò của truyền hình như một công cụ hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và định hướng hành vi sản xuất nông - lâm nghiệp.

Hệ thống khái niệm chính được làm rõ trong nghiên cứu bao gồm: truyền hình, chương trình truyền hình, chương trình truyền hình khoa giáo, công chúng truyền hình dân tộc thiểu số và truyền hình chuyên biệt. Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên cơ chế tương tác đa chiều giữa cơ quan sản xuất nội dung, phương thức dẫn truyền sóng vô tuyến - vệ tinh Vinasat và đối tượng tiếp nhận đặc thù tại các thôn bản vùng sâu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW, Quyết định số 72-HĐBT, Quyết định số 1637/QĐ-TTg, cùng các báo cáo nghiệp vụ định kỳ giai đoạn 2012 - 2014 của Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn.

Về dữ liệu sơ cấp, cỡ mẫu khảo sát văn bản truyền thông bao gồm 125 chương trình và tiểu mục khoa giáo phát sóng trong 2,5 năm nghiên cứu. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp mẫu điển hình để phân tích sâu khung chương trình của ngày phát sóng 23/5/2014. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 30 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại 5 huyện trọng điểm và 15 phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo chuyên môn trực tiếp sản xuất chương trình.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thông điệp truyền thông kết hợp quan sát thực địa và phỏng vấn sâu là nhằm bảo đảm tính khách quan, đo lường chính xác các chỉ số phát sóng định lượng, đồng thời nắm bắt sâu sắc tâm lý thụ hưởng thông tin của khán giả vùng cao. Timeline nghiên cứu được triển khai liên tục từ năm 2012, hoàn thiện thu thập dữ liệu vào tháng 6/2014 và xử lý số liệu tổng hợp trong năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế giai đoạn 2012 - 2014 cho thấy những kết quả cụ thể về diện mạo và cơ cấu chương trình khoa giáo tại Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn:

Thứ nhất, về cơ cấu thời lượng và tần suất phát sóng, thông tin khoa giáo chiếm tới hơn 50% tổng nội dung thông tin quảng bá mỗi ngày. Đài duy trì 15 nhóm chương trình khoa giáo định kỳ, chiếm 17% tổng số chương trình phát sóng. Khảo sát ngày điển hình 23/5/2014 ghi nhận tổng thời lượng phát sóng hơn 14 giờ, trong đó các chuyên mục khoa giáo chiếm 3 giờ 50 phút (khoảng 23%), các mục và bản tin khoa giáo chiếm khoảng 44%, phần còn lại là chương trình giải trí và phim truyện chiếm 5 giờ (khoảng 33%).

Thứ hai, về nguồn gốc sản xuất, trên 85% chương trình truyền hình khoa giáo do đài tự sản xuất, trong đó hình thức tự sản xuất toàn bộ chiếm gần 70%. Tuy nhiên, tồn tại sự phân hóa rõ rệt: các chương trình phối hợp ngành như Nông nghiệp, Y tế, Giáo dục có tỷ lệ tự sản xuất cao, trong khi chuyên mục mang tên Khoa giáo lại phụ thuộc lớn vào nguồn khai thác từ bên ngoài khi có tới 123 trên tổng số 125 nội dung khảo sát là tư liệu trao đổi hoặc mua bản quyền (chiếm 98,4%), chỉ có 2 nội dung là tự sản xuất (chiếm 1,6%).

Thứ ba, về năng lực truyền dẫn và sản xuất, đài đã nâng khung phát sóng từ 30-45 phút mỗi tuần vào năm 1997 lên 18 giờ mỗi ngày và chính thức phát sóng qua vệ tinh Vinasat từ ngày 21/6/2014. Mỗi tháng đài sản xuất hơn 60 chuyên mục, chuyên đề với đội ngũ nhân lực gồm 70 biên chế.

Thứ tư, về hiệu quả xã hội và tiếp nhận thông tin, 3 chương trình tiếng dân tộc gồm tiếng Mông, Dao, Tày phát huy hiệu quả cao trong việc thu hút người xem. Tuy vậy, do thiếu các phóng sự chỉ dẫn chuyên sâu bằng tiếng bản địa, toàn tỉnh vẫn còn 122 hộ với 642 nhân khẩu tại 11 xã thuộc 4 huyện bị lôi kéo bởi các luận điệu tuyên truyền phản khoa học của tổ chức bất hợp pháp.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa trực quan qua biểu đồ cơ cấu thời lượng phát sóng theo thể loại và bảng so sánh ma trận tỷ lệ tự sản xuất giữa các nhóm chuyên đề khoa giáo, giúp làm rõ mức độ mất cân đối giữa chương trình khai thác và chương trình tự thực hiện.

Nguyên nhân của những hạn chế xuất phát từ nguồn nhân lực mỏng với 70 biên chế cấp tỉnh, đội ngũ phóng viên thường xuyên luân chuyển và thiếu kiến thức chuyên sâu về khoa học nông - lâm nghiệp. Trang thiết bị ghi hình và dựng hậu kỳ chưa đồng bộ, kinh phí sản xuất hiện trường tại các xã vùng sâu vùng xa còn eo hẹp. Thêm vào đó, tâm lý rụt rè, ít phản hồi của đồng bào dân tộc thiểu số tạo ra rào cản lớn trong việc đo lường thị hiếu khán giả.

So với các công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về tình trạng nghèo đói vùng cao và nghiên cứu của các chuyên gia báo chí về công chúng truyền hình, kết quả của luận văn khẳng định sự tương đồng về rào cản địa lý và ngôn ngữ. Tuy nhiên, luận văn đã mở rộng đóng góp học thuật khi chỉ ra rằng truyền hình trực quan là phương thức hữu hiệu nhất để vượt qua rào cản mù chữ, giúp chuyển hóa kiến thức khoa học kỹ thuật phức tạp thành các hành động sản xuất cụ thể ngay tại nương rẫy.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao chất lượng chương trình truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Bắc Kạn, nghiên cứu đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Tái cấu trúc quy trình sản xuất nội dung theo hướng trực quan và thực hành: Áp dụng phương thức hướng dẫn cầm tay chỉ việc, tăng tỷ lệ hình ảnh minh họa thực tế lên trên 70% tổng thời lượng mỗi phóng sự, giảm tối đa thuyết minh hàn lâm; mục tiêu đạt 100% phóng sự khoa giáo có cấu trúc dễ nhớ, dễ làm theo; triển khai ngay trong giai đoạn 2015 - 2016; chủ thể thực hiện là Ban Biên tập và Phòng Chuyên đề Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn.

  2. Mở rộng khung phát sóng và sản xuất chương trình khoa giáo đa ngữ: Đẩy mạnh biên dịch, lồng tiếng và sản xuất mới các chuyên mục khuyến nông, chăm sóc sức khỏe bằng tiếng Mông, Dao, Tày; đặt mục tiêu nâng tỷ trọng nội dung khoa giáo tiếng dân tộc đạt từ 30% đến 35% tổng dung lượng khoa giáo toàn đài; thực hiện theo lộ trình 2016 - 2018; do Ban Biên tập Tiếng Dân tộc chủ trì phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh Bắc Kạn.

  3. Chuẩn hóa đào tạo nghiệp vụ và nâng cao năng lực đội ngũ phóng viên: Tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng sản xuất truyền hình khoa giáo hiện đại, kỹ thuật quay phim hiện trường vùng cao và kiến thức nông nghiệp bản địa cho 100% phóng viên, biên tập viên; thời gian thực hiện từ 2015 đến 2020; do Ban Giám đốc đài phối hợp cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức.

  4. Hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật và số hóa kênh phân bổ thông tin: Nâng cấp đồng bộ hệ thống máy quay kỹ thuật số chuẩn HD, số hóa 100% kho tư liệu khoa giáo và cắt lát các video clip hướng dẫn ngắn từ 3 đến 5 phút để phân phối trên cổng thông tin điện tử và mạng xã hội; lộ trình thực hiện từ 2016 đến 2020; do Phòng Kỹ thuật công nghệ của đài phối hợp cùng Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Lãnh đạo, phóng viên và biên tập viên các đài phát thanh - truyền hình khu vực miền núi: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về phương pháp xây dựng kịch bản truyền hình khoa giáo trực quan, hỗ trợ tối ưu hóa khung phát sóng 18 giờ mỗi ngày và giải quyết bài toán thiếu hụt tư liệu địa phương.

  2. Cán bộ quản lý Nhà nước tại Ban Tuyên giáo, Ban Dân tộc và Sở Thông tin và Truyền thông: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ khoa học để xây dựng chính sách truyền thông, phân bổ ngân sách sản xuất chương trình chuyên biệt và triển khai các đề án đưa thông tin về cơ sở cho hơn 86% đồng bào dân tộc thiểu số.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông, Xã hội học: Là tài liệu học thuật giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu về truyền thông phát triển, phân tích hành vi công chúng đặc thù và lý thuyết dòng chảy thông tin tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

  4. Cán bộ khuyến nông, nhân viên y tế cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ: Giúp tham khảo kỹ năng đơn giản hóa kiến thức chuyên ngành thành các thông điệp hình ảnh trực quan, nâng cao năng lực truyền thông thay đổi hành vi cho người dân tại các xã nghèo vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao truyền hình là kênh thông tin hiệu quả nhất đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Bắc Kạn?

Truyền hình kết hợp đồng thời hình ảnh động chân thực và âm thanh sống động, giúp người xem tiếp nhận thông tin trực quan mà không bị cản trở bởi trình độ học vấn. Với địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 50% và nhiều người cao tuổi chưa thông thạo chữ viết phổ thông, hình ảnh chỉ dẫn thực tế trên truyền hình giúp người dân dễ dàng quan sát và áp dụng đúng kỹ thuật canh tác.

Thực trạng sản xuất chương trình chuyên mục Khoa giáo tại Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn có điểm gì đáng lưu ý?

Dù tỷ lệ tự sản xuất chung của các nhóm chương trình khoa giáo đạt trên 85%, riêng chuyên mục mang tên Khoa giáo lại có tới 98,4% nội dung phải khai thác từ nguồn bên ngoài (123/125 nội dung khảo sát). Điều này dẫn đến sự thiếu hụt các hướng dẫn kỹ thuật sát hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán canh tác của địa phương.

Học thuyết dòng chảy hai bước được minh chứng như thế nào trong nghiên cứu này?

Tại các thôn bản vùng cao, người dân thường có thói quen tập trung xem truyền hình tập thể. Mạng lưới 1.354 người có uy tín, già làng và trưởng bản sau khi theo dõi chương trình đã đóng vai trò cầu nối giải thích, hướng dẫn lại cho bà con, giúp thông điệp khoa học kỹ thuật và chủ trương chính sách lan tỏa nhanh chóng và chính xác.

Khó khăn lớn nhất trong hoạt động sản xuất chương trình khoa giáo vùng cao là gì?

Khó khăn cốt lõi nằm ở nguồn nhân lực mỏng chỉ với 70 biên chế toàn đài, thiếu đội ngũ phóng viên chuyên sâu về kỹ thuật nông nghiệp và trang thiết bị ghi hình chưa đồng bộ. Địa hình đồi núi chia cắt phức tạp cũng khiến chi phí và thời gian di chuyển tác nghiệp tại hiện trường cơ sở tăng cao.

Chương trình khoa giáo tiếng dân tộc mang lại giá trị gì trong việc ổn định an ninh tư tưởng?

Chương trình cung cấp kiến thức khoa học đúng đắn, giúp bài trừ các hủ tục lạc hậu và nâng cao sức đề kháng thông tin cho người dân. Nhờ đó, chương trình góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của các luận điệu phản khoa học từng lôi kéo 122 hộ với 642 nhân khẩu tại 11 xã tham gia các tổ chức bất hợp pháp.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò thiết yếu của truyền hình khoa giáo trong việc nâng cao dân trí và hỗ trợ sinh kế cho hơn 86% đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn.
  • Đánh giá toàn diện diện mạo 15 nhóm chương trình khoa giáo, chỉ rõ tỷ lệ tự sản xuất đạt trên 85% nhưng vẫn còn điểm nghẽn phụ thuộc nguồn tư liệu khai thác ở chuyên mục chuyên sâu.
  • Chứng minh giá trị ứng dụng của học thuyết truyền thông hai bước thông qua vai trò then chốt của 1.354 người có uy tín tại cộng đồng cơ sở.
  • Nhận diện các rào cản nội tại về biên chế 70 cán bộ, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật và rào cản tiếp nhận thông tin tại các địa bàn vùng sâu.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về đổi mới nội dung trực quan, tăng cường phát sóng đa ngữ tiếng Mông, Dao, Tày, đào tạo nhân lực và số hóa hạ tầng truyền dẫn.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Thị Ngần là công trình khoa học chuyên sâu, đóng góp hệ thống luận cứ lý luận và thực tiễn vững chắc cho lĩnh vực báo chí truyền hình miền núi. Các cơ quan quản lý và đơn vị truyền thông cần khẩn trương hiện thực hóa các khuyến nghị trong giai đoạn phát triển mới nhằm nâng cao chất lượng sóng truyền hình, đồng thời khuyến khích các nghiên cứu tiếp theo mở rộng khảo sát tác động của truyền hình số và mạng xã hội đối với công chúng dân tộc thiểu số.