MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục giới tính cùng với sức khỏe sinh sản luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu trong hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Hiện nay thé nhận thấy rằng, một số trẻ vị thành niên có thái độ khá cởi mở về tình yêu và tình dục, nhưng các em lại thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng liên quan đến giới tính, sức khỏe sinh sản và tình dục. Trong khi đó, giáo dục giới chưa được chú trọng đúng mức và chưa có sự vào cuộc kip thoi, đồng bộ của các cơ quan có trách nhiệm liên quan, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình.
Về phía trường học, các nội dung về giáo dục giới tính trong nhà trường hiện còn chưa thực sự hiệu quả do nội dung, thời điểm và phương thức giảng dạy. Giáo viên chưa có đủ kỹ năng, phương pháp dé giao tiếp, kết nỗi với học sinh, tạo ra một môi trường thoải mái dé các em có thé chia sẻ những khúc mắc dé có thé hỗ trợ cho trẻ kịp thời. Ngày 31/5/2023, tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV, nhiều đại biểu đã đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cân nhắc, xem xét đưa nội dung giáo dục giới tính thành một môn học độc lập có chương trình riêng, giáo trình riêng, nội dung được thiết kế phù hợp theo sự phát triển của từng lứa tuổi ở mỗi bậc học. Từ năm 2006, Bộ giáo dục đã đưa môn giáo dục giới tính vào trong nội dung chương trình sách giáo khoa môn Khoa học lớp 5, năm 2018, tiếp tục đưa nội dung giáo dục giới tính vào Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội từ lớp 1, lớp 2, lớp 3 và Chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp 5, tuy nhiên hiệu quả chưa cao, giáo dục giới tính hiện nay không chỉ nằm trong đối tượng dành cho học sinh, mà cần phải mở rộng thêm các đối tượng ở nhiều lứa tuổi.
Trong khi đó, các thông tin tiêu cực như văn hoá đồi trụy, sách báo, video khiêu dâm trên các hạ tầng mạng xã hội đã làm ảnh hưởng, tác động mạnh đến nhận thức và cách hành xử của xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng làm rối loạn trật tự xã hội, làm mai một thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hàng loạt vẫn dé như hiếp dâm độ tuổi thành niên, nao phá thai ở tuổi vị thành niên, trẻ em làm cha mẹ sớm cho thấy thực trạng giáo dục giới tính còn yếu kém, né tránh. Chính vì thế, truyền thông về giáo dục giới tính đang là vấn đề cấp bách, cấp thiết trong thời điểm hiện nay.
Qua khảo sát cho thấy, trong bối cảnh phải cạnh tranh với gần 200 kênh truyền hình khác, một số hệ kênh của Đài Truyền hình VTC như VTC9 và VTC Now đã khắc phục khó khăn khai thác tối đa lợi thé của mình dé vươn lên khang định được uy tín, thương hiệu của mình, chuyên mình mạnh mẽ trên cả hai nền tảng số và nền tảng truyền. Với việc đặt trọng trách việc sản xuất nội dung về giáo dục giới tính trên hệ thống hai kênh này chắc chắn sẽ mang đến hiệu quả cao, tiếp cận đúng đối tượng khán giả trên hai hệ thống truyền hình và hạ tầng số của Đài Truyền hình Kỹ Thuật số VTC. Tuy nhiên, trong các chương trình có nội dung về giáo dục giới tính, có những sự kiện, những thông tin đòi hỏi phải cập nhật va truyền tải nhanh chóng trên các chương trình truyền hình của kênh VTC9 đặc biệt là trong các chương trình khảo sát như Cafe ngày mới, Nói về cuộc sống song phương thức quản trị hiện nay chưa thật mềm dẻo, linh hoạt, áp lực về mặt nội dung trong các chương trình rất lớn, nhiều nội dung mang tính truyền thông sách vở, không phù hợp đời sông thực tế, có những nội dung bị xem là nhạy cảm phải chờ ý kiến chỉ đạo từ cấp trên, cũng như cách thức duyệt tin bài, triển khai tin bài chậm đã tạo ra độ trễ, những “khoảng lùi” trong truyền tải thông điệp, giảm sức hút đối với công chúng. Đơn vị thứ hai được khảo sát là Trung tâm Nội dung số (VTC Now): Thành lập từ tháng 3/2018, Trung tâm Nội dung số là đơn vị thực hiện nhiệm vụ hạt nhân trong quá trình chuyên đổi số của Đài VTC, thực hiện sản xuất và kinh doanh nội dung trên môi trường số.
Sau hơn 3 năm, Trung tâm đã xây dựng thành công hệ thống phân phối nội dung đa phương tiện VTC Now, đưa nội dung của Đài VTC hiện diện trên đầy đủ các nền tảng kỹ thuật số phô biến tại Việt Nam. Cụ thể: Ứng dụng VTC Now trên điện thoại thông minh với hơn 2 triệu lượt cài đặt; trang tin điện tử www.vn; hệ thống kênh YouTube, Facebook, Zalo. với hơn 8 triệu người đăng ký theo dõi; hệ thống các công dịch vụ nha mạng trên nền tảng của Viettel, Vinaphone, Mobifone. Với những gi VTC Now hiện nay dang sở hữu, nội dung giáo dục sức khoẻ giới tính trên hệ thong ha tang nay 1a diéu dang quan tam.
Tuy nhién tai sao, các chương trình nội dung về Giáo dục giới tính của VTC Now vẫn còn vắng bóng, chưa có format hay đủ sức hấp dẫn về giáo dục giới tính dé thu hút khán giả? Theo một kết quả đo lường, khảo sát gần đây thì hầu hết các chương trình khán giả quan tâm trên hệ thống này lại chủ yếu nằm trong các nội dung khác? Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự yếu kém trong một số khâu của công tác quản trị là một nguyên nhân chủ đạo. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản trị sản xuất nội dung về giáo dục giới tính của Đài truyền hình kỹ thuật số VTC” làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ. Tình hình nghiên cứu đề tài Qua khảo sát, học viên nhận thấy có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này. Nhóm các công trình nghiên cứu xây dựng quản trị sản xuất nội dung chương về van đề giới tính với báo chí truyền hình Tác giả Ivan Cury, Directing and Producing for Television A Format Approach.
Nội dung này cung cấp cách tiếp cận định dang trong việc đạo diễn và sản xuất cho truyền hình, có thể bao gồm các phương pháp sáng tạo và công nghệ mới trong sản xuất nội dung truyền hình.V Cudonhetxép, Dao Tan Anh (Biên dịch) (2005), Báo chí truyền hình (tập 2), Nxb Thông tan. Nguyễn Thúy Quỳnh (2017), Cơ sở báo chí truyền hình (Tài liệu dich), Học viện Báo chí và Tuyên truyền.Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyện thông hiện đại (Từ han lâm đến đời thường), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, PGS. TS Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo chi’, "Nghĩ đột phá cho format báo chí” của PGS.TS Vũ Quang Hào, cũng như "Sáng tạo tác phẩm báo chí" của PGS.TS Nguyễn Đức Dũng, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền “Tiếp cận thông tin của nhà báo Việt Nam trong kỷ nguyên kỹ thuật số”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, 2016. Các tác phẩm, nghiên cứu này đều có các phân tích chuyên môn về sự sáng tạo trong tác phâm báo chí và truyền hình, đưa ra những góc nhìn về cách sáng tạo có thê được áp dụng trong nội dung báo chí và truyền hình, và bên cạnh đó cung cấp các kỹ năng tác nghiệp báo chí trong môi trường mới với nhiều thách thức và cơ hội.
"Television Format and Children’s Executive Function" của Tiến sĩ Ashley E. Hinten và bài viết về "Gen Z Trung Quốc” Nguyễn Ngọc Oanh, Nhà báo với trẻ em, Nxb Thông tân, 2014, Trần Thị Thuý Hồng: Tác động của nhóm dé tài tình bạn, tình yêu trên bao in đối với sự phát triển nhân cách của tuổi vị thành niên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, H, 2004, tr. 29-30 tập trung vào giáo dục giới tính và tác động của nó đối với trẻ em, một chủ đề quan trọng trong thời đại hiện đại, và các cách đưa tin phù hợp với lứa tuổi, đối tượng này.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về Giáo dục giới tính Lê Thi, (2010), Vai trò gia đình trong việc giáo dục trẻ vi thành niên trong bối cảnh của thế kỷ XXI, đăng trên Tạp chí Tâm lý học, số 7 (136 Nguyễn Quang Mai (chủ biên), (2002), “Giới tính và đời sống gia đình", Lê Thị Nhâm Tuyết (chủ biên), (2009), “Nâng cao nhận thức về quyên sức khỏe sinh sản — quyên sức khỏe tình dục và chất lượng cuộc sống”, Nxt Lao động — Xã hội, Hà Nội. Nguyễn Thanh Bình (1999), Những điêu can biết để giáo dục giới tính cho con, Nxb Giáo dục.
Đỗ Hà Thế Bình (2007), Thực trạng việc quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp Nguyễn Hữu Dũng (1999), Giáo đục giới tính, Nxb Giáo dục. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Doan (1997), Giáo dục giới tính, Nxb Dai học Quốc gia Hà Nội. Bùi Ngọc Oánh (2006), Tam lí học giới tính và giáo dục giới tính, Nxb Giáo dục. Báo Nhân Dân số 21/112021 Lỗ hổng giáo dục giới tính cho trẻ Huỳnh Văn Sơn (1999), Thuc trạng nhận thức và thai độ cua học sinh pho thông trung học ở một số trường nội thành Thành phố Hồ Chi Minh doi với nội dung giáo dục giới tính, Luận văn thạc sĩ Tâm lí học.
Khảo sát thực trạng nhận thức về giáo dục giới tính của học sinh lớp 9 tại một số trường trung hoc cơ sở ở quận 11 TP. Hà Chí Minh, của tác giả Nguyễn Xuân Huệ, đăng trên tạp chí Trường Dai học Sư phạm Thành phô Hồ Chí Minh, số 39 năm 2012 Bên cạnh đó các format chương trình về giáo dục nỗi tiếng trên thế giới ví dụ Nexflix, .v Tổng quan các công trình trên có thể thấy, những vấn đề lý luận liên quan tới quản lý báo chí từ nội dung, phương thức tới đánh giá thực tiễn và đưa ra giải pháp tăng cường quản lý tại một số cơ quan, kênh, đài truyền hình về nội dung giáo dục giới tính, nhiều công trình nghiên cứu đã trình bày rõ hệ thống cơ sở lý luận về báo chí truyền hình cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về giáo dục giới tính cũng đã chỉ ra những phương pháp giáo dục đúng và hiệu quả về giới tính. Đây là những nghiên cứu có giá trị tham khảo lớn cho tác giả khi nghiên cứu về quản trị sản xuất nội dung về giáo dục giới tính của Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC.