CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý thuyết về năng lực động doanh nghiệp Các nghiên cứu về chiến lược thường hướng đến việc xây dựng những lý thuyết chuẩn tắc để doanh nghiệp có thể ứng dụng trong việc lựa chọn các chiến lược thực hiện để có khả năng thu hồi vốn cao (Barney, 1986). Mục đích chung của các chiến lược là tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp để đạt được kết quả kinh doanh mong muốn.
Lý thuyết về năng lực động doanh nghiệp cũng vậy, nó được xây dựng trên nền tảng từ các lý thuyết cạnh tranh để nhằm giúp doanh nghiệp xem xét tạo ra các lợi thế bền vững thích ứng với môi trường kinh doanh ngày càng có nhiều biến động. Khái niệm về năng lực động Trong những năm 1980 đến 1990 các lý thuyết về phân tích cạnh tranh chủ yếu tập trung vào việc phân tích thị trường ở trạng thái cân bằng (lý thuyết tổ chức ngành, kinh tế học Chamberlain) mà ít xem xét quá trình động của thị trường. Các lý thuyết này được xây dựng trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng ngành kinh doanh có tính đồng nhất cao về nguồn lực và chiến lược thực hiện. Đây chính là điểm yếu của các lý thuyết này trong bối cảnh môi trường kinh doanh biến đổi ngày càng nhanh chóng.
Bắt đầu từ giữa những năm 1980 đầu những năm 1990 lý thuyết về nguồn lực doanh nghiệp được nhiều học giả nghiên cứu xem xét qua việc xây dựng chiến lược kinh doanh từ các nhân tố nội tại của doanh nghiệp (Wernerfelt, 1984). Lý thuyết nguồn lực cho rằng chính các nguồn lực của doanh nghiệp (hữu hình và vô hình) sẽ quyết định lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh. Bước phát triển tiếp theo của lý thuyết nguồn lực hình thành lên lý thuyết về năng lực động doanh nghiệp. Lý thuyết năng lực động nhấn mạnh vào sự thay đổi (Smith và cộng sự, 2009).
Lý thuyết về năng lực động đánh giá được làm thế nào các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh trong môi trường biến đổi. Điều quan trọng hơn là năng lực động cho phép doanh nghiệp tạo ra và duy trì lợi thế trong môi trường thay đổi nhanh chóng (Ambrosini &Bowman, 2009). Theo Teecce và cộng sự (1997) năng lực động của doanh nghiệp được định nghĩa là “khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm năng của doanh SVTH: Mai Nguyễn Hoàng 8 Khóa luận tốt GVHD: TS. Lê Thị Phương nghiệp để đáp ứng sự thay đổi của môi trường kinh doanh”.
Nguồn lực là cơ sở cho việc tạo ra lợi SVTH: Mai Nguyễn Hoàng 9 Khóa luận tốt GVHD: TS. Lê Thị Phương thế cạnh tranh và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần luôn nỗ lực xác định, nuôi dưỡng, phát triển và sử dụng năng lực động một cách hiệu quả, thích ứng với thay đổi của thị trường và đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình một cách sáng tạo (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Mặc dù khái niệm năng lực động của Teece và cộng sự (1997) được chấp nhận rộng rãi và được nhiều nhàng nghiên cứu sử dụng.
Tuy nhiên, trong những bối cảnh nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những quan điểm của mình về năng lực động. Zahra và cộng sự (2006) tổng kết một số quan điểm về năng lực động như sau: Bảng 1.1 Những định nghĩa về năng lực động Tác giả Định nghĩa Helfat (1997) Là tập hợp của những năng lực/khả năng cho phép công ty tạo ra những sản phẩm mới, quy trình mới và khả năng đáp ứng những thay đổi của bối cảnhthị trường. Teece, Năng lực động là khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm Shuen& năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh. Pisano(1997) Eisenhardt & Là quá trình doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực - đặc biệt là quá trình tích Martin (2000) hợp, định dạng lại để đạt được và giải phóng các nguồn lực để phù hợp với hoặc thậm chí tạo ra sự thay đổi của thị trường.
Do đó năng lực động là thói quen tổ chức và (thực thi) chiến lược giúp doanh nghiệp đạt được những kếtquả về các nguồn lực mới như tạo lập thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, phân chia, phát triển và lụi tàn. Lee, Là nguồn lực mới hơn của lợi thế cạnh tranh trong khái niệm làm thế nào Lee&Rho cácdoanh nghiệp có thể ứng phó với những biến đối của môi trường (kinh (2002) doanh). Rindova Năng lực động thể hiện ở hai mức độ phát triển (của doanh nghiệp): Ở &Taylor mứcđộ vi mô là "nâng cấp năng lực quản lý của doanh nghiệp", ở mức độ vĩ (2002) mô là "định dạng lại năng lực thịtrường". Zahra Năng lực động là khả năng thay đổi định hướng giúp các doanh nghiệp &George táitriển khai và định dạng lại các nguồn lực cơ bản của họ để đáp ứng sự phát (2002) triển của nhu cầu khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
Zollo& Năng lực động là khả năng học hỏi và ổn định các hoạt động của tổ chức, Winter(2002) thông qua đó hệ thống của tổ chức thay đổi thói quen trong hoạt động củamình, theo đuổi các hoạt động cải thiện hiệu quả. SVTH: Mai Nguyễn Hoàng 10 Khóa luận tốt GVHD: TS. Lê Thị Phương (Nguồn: Zahra và cộng sự (2006) SVTH: Mai Nguyễn Hoàng 11 Khóa luận tốt GVHD: TS. Lê Thị Phương Dựa trên việc khảo sát các định nghĩa về năng lực động doanh nghiệp, trong luận án này tác giả định nghĩa năng lực động là “khả năng tích hợp, xây dựng, cấu trúc lại những nguồn lực của doanh nghiệp để chuyển hóa chúng thành năng lực của doanh nghiệp nhằm đáp ứng sự thay đổi từ môi trường kinh doanh”.
Lý thuyết về năng lực động là một lý thuyết khá mới trong phân tích cạnh tranh, có khá nhiều các nghiên cứu ở dạng lý thuyết (ví dụ: Teecce và cộng sự, 1997; Ambrosini & Bowman, 2009) hoặc tập trung vào các thành phần của năng lực động (Keh và cộng sự, 2007) mà thiếu vắng các nghiên cứu kiểm định bằng thực nghiệm. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) nghiên cứu năng lực động dưới góc độ phân tích các ngành kinh doanh mà thiếu các nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng lý thuyết về năng lực động cần được phát triển, các nghiên cứu mới tiếp tục khám phá các nhân tố mới tạo ra năng lực động cho doanh nghiệp để có cái nhìn rộng hơn, toàn diện hơn về năng lực động doanh nghiệp (Barney, 2001; Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Các nhân tố hình thành năng lực động của doanh nghiệp Xuất phát từ đặc điểm của nguồn lực để trở thành năng lực động doanh nghiệp phải thỏa mãn tiêu chí VRIN, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều nhân tố khác nhau có thể xem là năng lực động doanh nghiệp.
Do đây là một lý thuyết mới, các nghiên cứu thực nghiệm xem xét rất nhiều nhân tố khác nhau và không có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Một số nhà nghiên cứu trên thế giới (Barney, 2001) và tại Việt Nam (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) cho rằng cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác lập và kiểm chứng các nhân tố có thể trở thành năng lực động doanh nghiệp. Hay nói cách khác, những nguồn lực có thể chuyển hóa thành năng lực (khả năng triển khai, thực hiện) của doanh nghiệp đáp ứng sự biến đổi của thị trường, môi trường kinh doanh đều là những thành phần tạo nên nguồn năng lực động của doanh nghiệp. Năng lực động là tập hợp của các nguồn lực (vô hình) khác nhau giúp cho doanh nghiệp có khả năng đáp ứng với sự biến động từ môi trường kinh doanh.
Trong phạm vi bài luận này, nghiên cứu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu trước đây kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả lựa chọn được sáu (06) nhân tố chính được xem là những nhân tố quan trọng nhất tạo ra năng lực động cho các doanh nghiệp bao gồm: SVTH: Mai Nguyễn Hoàng 12 Khóa luận tốt GVHD: TS. Lê Thị Phương (1) năng lực marketing, (2) năng lực sáng tạo, (3) năng lực thích nghi; (4) định hướng kinh doanh, (5) định hướng học hỏi và (6) danh tiếng doanh nghiệp. Năng lực marketing Năng lực marketing được xem như việc tìm ra các phương cách để thỏa mãn khách hàng và đạt được mục tiêu của doanh nghiệp (Kotler, 2006; Trout, 2004).
Việc tạo ra sự thỏa mãn khách hàng là nhân tố quan trọng trong lĩnh vực marketing dịch vụ. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) trong nghiên cứu về năng lực động doanh nghiệp cho rằng năng lực marketing được hình thành từ các nhân tố: (1) đáp ứng khách hàng, (2) phản ứng với đối thủ cạnh tranh,thích ứng môi trường vĩ mô và (4) chất lượng mối quan hệ. Trongđó: Khả năng đáp ứng khách hàng được thể hiện qua việc cung cấp dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Khả năng đáp ứng được đo lường thông qua sự hiểu biết về nhu cầu khách hàng của tổ chức, sử dụng việc thu thập thông tin, khả năng phản ứng trước các biến động của khách hàng và đối thủ.
Phản ứng với đối thủ cạnh tranh là việc theo dõi các hoạt động của đối thủ để có phản ứng thích hợp thông qua các kế hoạch marketing. Phản ứng với đối thủ cạnh trạnh được thể hiện ở việc am hiểu về đối thủ, khả năng phản ứng trước những thay đổi của đối thủ về dịch vụ, tính chủ động trong việc thu thập thông tin và phản ứng khi đối thủ có những thay đổi liên quan đến khách hàng. Thích ứng với môi trường vĩ mô là khả năng thích ứng trước các thay đổi của chính sách vĩ mô, những thay đổi từ môi trường kinh doanh để nắm bắt những cơ hội kinh doanh cũng như các đe dọa từ thị trường tới doanhnghiệp. Chất lượng mối quan hệ là khả năng thiết lập các mối quan hệ của tổ chức với đối tác và các bên hữu quan như chính quyền, nhà cung cấp, hệ thống kênh phân phối và khách hàng.
Năng lực marketing liên quan đến việc đáp ứng khách hàng, xây dựng mối quan hệ tốt với đối tác kinh doanh và chính quyền, khả năng phản ứng với đối thủ cạnh tranh. Tất cả những nhân tố này được thực hiện đều đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thông qua việc cung cấp sản phẩm/dịch vụ và thu về lợi nhuận.