Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Vinaconex 6 Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Vinaconex 6 trong giai đoạn tới 10 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Theo Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh có ngh a là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngƣời, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nhƣ nhau” Nhƣ vậy, có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua, tranh đấu, giành giật giữa các doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp với nhau về thị trƣờng, thị phần và khách hàng Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (giữa các quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế, sử dụng các công nghệ sản xuất ƣu việt, cung cấp dịch vụ hoàn hảo để thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng cách cung cấp các sản phẩm có chất lƣợng và giá cả hợp lý hơn so với các đối thủ cạnh tranh Muốn thành công trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo ra sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ trực tiếp Sự khác biệt này sẽ thúc đẩy khách hàng mua hàng của các doanh nghiệp chứ không phải từ đối thủ cạnh tranh khác Chính sự khác biệt này giúp doanh nghiệp có đƣợc những lợi thế trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận Cạnh tranh là một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trƣờng Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực Về mặt tích cực, cạnh tranh chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, thiết kế các sản phẩm phù hợp, tận dụng tối đa khoa học công nghệ để tổ chức sản xuất và cung ứng sản phẩm hiệu quả nhất nhằm đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng, qua đó doanh nghiệp sẽ có đƣợc lợi nhuận Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có thể dẫn đến tác động tiêu cực khi các doanh nghiệp vì quá quan tâm đến lợi ích của mình, bỏ qua lợi ích xã hội và các nhóm liên quan nhƣ ngƣời lao động, các nhà phân phối, dân cƣ sinh sống trong khu vực doanh nghiệp hoạt động để giành giật lợi nhuận bằng 11 z mọi cách, kể cả cách tiêu cực nhất Muốn phát huy đƣợc mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cạnh tranh trong cơ chế thị trƣờng, nhà nƣớc cần tạo lập môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, ngăn ngừa và xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Ngoài ra, ngƣời tiêu dùng và những nhóm có liên quan trong xã hội nhƣ ngƣời lao động, các nhà phân phối, các nhà cung ứng,… cũng cần thể hiện chính kiến và vai trò của mình trong việc tạo ra môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp Khách hàng chính là ngƣời đƣa ra các quyết định có nên sử dụng sản phẩm của những doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, vì quá coi trọng lợi nhuận mà gây ra những tổn hại cho xã hội nhƣ gây ô nhiễm môi trƣờng, sử dụng lao động không đúng qui định, không chấp hành các ngh a vụ tài chính với nhà nƣớc nhƣ nộp thuế thu nhập, cũng nhƣ không tuân thủ các qui định khác của pháp luật 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bƣớc vào thời kỳ bùng nổ với số lƣợng công trình nghiên cứu đƣợc công bố rất lớn Theo Thorne, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại theo 3 cách tiếp cận sau: lý thuyết thƣơng mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt cung, chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của ngƣời sản xuất – kinh doanh.
Theo cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do đó sự khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ ñƣợc coi là tiêu chí chính để đo lƣờng năng lực cạnh tranh. Lý thuyết này chƣa chú trọng đúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng nhƣ các yếu tố môi trƣờng kinh doanh Theo Van Duren và các cộng sự (1991), cách tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu do chƣa chú trọng đúng mức đến sự khác biệt về chất lƣợng sản phẩm, cách tiếp thị và những dịch vụ hậu mãi của 12 z công ty Để khắc phục hạn chế của cách tiếp cận thƣơng mại truyền thống, cần kết hợp mặt cung với mặt cầu hàng hóa, dịch vụ khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh công ty. Lý thuyết tổ chức công nghiệp gọi tắt là IO (Industrial Organization), đƣợc tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành (Structure of industry), vận hành hay chiến lƣợc (Conduct/strategy) của công ty và kết quả kinh doanh (Performance) của ngành, còn gọi là mô hình SCP (StructureConduct Performance) hay mô hình Bain-Masson. Điểm then chốt của mô hình IO là kết quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu của ngành mà các công ty đang cạnh tranh với nhau Cơ cấu của ngành quyết định hành vi (chiến lƣợc kinh doanh) của công ty và điều này sẽ dẫn đến kết quả kinh doanh ngành Mô hình SCP đƣợc củng cố bởi lý thuyết cạnh tranh nhóm (oligopoly theory) rất hữu ích trong việc hình thành chiến lƣợc và đánh giá bản chất cạnh tranh trong ngành Mô hình này cũng giúp chúng ta phân tích kết quả kinh doanh của ngành (các công ty trong ngành) và nhận dạng tiềm năng của từng ngành kinh doanh (các ngành khác nhau có hiệu quả kinh doanh khác nhau) Cũng cần chú ý là đơn vị phân tích (unit of analysis) trong lý thuyết IO nguyên thủy là ngành, vì vậy nó không có hữu ích nhiều khi phân tích và so sánh kết quả kinh doanh của các công ty khác nhau trong cùng ngành Những phát triển tiếp theo của IO đã chuyển đơn vị phân tích vừa là công ty vừa là ngành Porter là một trong ngƣời tiên phong trong ứng dụng lý thuyết IO trong xây dựng chiến lƣợc, đặc biệt là mô hình năm lực cạnh tranh, trong đó cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh Mô hình này đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của ngành.
Cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin, còn gọi là cạnh tranh độc quyền (monopolistic competition), tập trung vào sự khác biệt (differentiation) của sản phẩm và dịch vụ Mô hình cạnh tranh trong IO và mô hình cạnh tranh độc quyền trong kinh tế học Chamberlin đều chú trọng vào việc giải thích chiến lƣợc (C) 13 z của công ty và kết quả kinh doanh (P) trong cạnh tranh Tuy nhiên, nhƣ đã giới thiệu, mô hình IO bắt đầu bằng việc tập trung vào cơ cấu (S) của ngành và tiếp theo là hành vi/chiến lƣợc (C) và kết quả (P) Kinh tế học Chamberlin bắt đầu thông qua việc tập trung vào năng lực đặc biệt của công ty và tiếp theo là theo dõi tác động của sự khác biệt này vào chiến lƣợc và kết quả kinh doanh mà công ty theo đuổi Cạnh tranh trong ngành dựa vào sự khác biệt của các công ty và đây chính là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của công ty Hơn nữa, chiến lƣợc của công ty làm thay đổi cơ cấu của ngành Cũng cần chú ý thêm là trong mô hình cạnh tranh Chamberlin, công ty vẫn tập trung vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc xác định doanh thu biên tế (marginal revenue) bằng với chi phí biên tế (marginal cost) nhƣ trong thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo Tuy nhiên, nếu thành công trong khác biệt sẽ đem lại lợi nhuận vƣợt mức (excess profit) Vì vậy, chiến lƣợc kinh doanh của công ty đóng vai trò quan trọng thông qua việc tận dụng hiệu quả nguồn lực khác biệt của công ty Hai là, mô hình cạnh tranh trong kinh tế học IO và Chamberlin không đối kháng nhau mà chúng bổ sung lẫn nhau Cơ cấu ngành ảnh hƣởng rất lớn đến chiến lƣợc tận dụng lợi thế khác biệt của công ty trong việc xác định chiến lƣợc cạnh tranh Kinh tế học IO cũng thừa nhận lợi thế khác biệt quyết định rất lớn đến chiến lƣợc kinh doanh mà công ty theo đuổi Và, những lợi thế khác biệt này của công ty chính là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của công ty.