Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Trung tâm bán lẻ Viettel Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Trung tâm bán lẻ Viettel Thanh Hóa. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Tiếp cận dưới góc độ chủ thể của cạnh tranh, “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất” [7, trang 13]. Đối với góc độ phương thức cạnh tranh, từ điển kinh tế kinh doanh Anh – Việt ghi nhận: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hoá tốt nhất” [3, trang 115] Mặt khác dưới góc độ mục đích của cạnh tranh, giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lê nin viết: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [5, trang 65] Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
Micheal Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung 8 bình mà doanh nghiệp đang có”.Marx: “Cạnh tranh là ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh cơ bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những quy luật giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận.
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược, cơ cấu thì “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao và mới lại hơn cho khách hàng để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn đối thủ cạnh tranh”. Tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yêu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu dùng hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và tiện lợi”. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng.
Từ những định nghĩa và các cách hiểu như trên có thể rút ra các điểm chung sau đây: Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế 9 có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn. Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình.
Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại hoàn toàn trái ngược. Giống như bất kỳ sự vật hiện tượng nào khác, cạnh tranh cũng luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề: mặt tích cực và mặt tiêu cực. Ở khía cạnh tích cực, cạnh tranh là nhân tố quan trọng góp phần phân bổ các nguồn lực có hại của xã hội một cách hợp lý và hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ, dẫn đến gia tăng năng suất sản xuất xã hội, sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thông qua các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đa dạng.
Ở góc độ tiêu cực, nếu cạnh tranh chỉ nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận mà bất chấp tất cả thì song song với lợi nhuận được tạo ra, có thể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như môi trường sinh thái bị hủy hoại, nguy hại cho sức khỏe con người, đạo đức xã hội bị xuống cấp, nhân cách con người bị tha hóa. Nếu xảy ra tình trạng này, nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển một cách lệch lạc và không vì lợi ích của số đông. Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là động lực phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng và doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm: Sản xuất gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Do đó, người 10 tiêu dùng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của mọi doanh nghiệp.
Dưới tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt khả năng kinh doanh. Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường luôn tự giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường. Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng. Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất đều và luôn thiếu hụt.
Cạnh tranh thực sự là một cuộc đua tranh, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau. Do vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnh tranh là “linh hồn sống” của thị trường. Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện, tiền đề phát lý cụ thể. Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và bảo đảm.
Cạnh tranh xuất hiện khi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính cách là nguồn gốc của cạnh tranh. Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội, là nhân tố làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được với điều kiện của thị trường. Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp 11 phần vào sự phát triển kinh tế.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ khoa học, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Cạnh tranh sẽ làm sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ ngày càng có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn với chi phí rẻ hơn, có hàm lượng tri thức khoa hoc, công nghệ trong mỗi sản phẩm cao hơn. Các công cụ cạnh tranh 1. Cạnh tranh bằng giá Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hóa, dịch vụ nào đó.
Thực chất, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động và hao phí lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất. Khi có cùng một loại hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tương đương nhau thì khách hàng sẽ lựa chọn hàng hóa, dịch vụ nào có giá thấp hơn để lợi ích thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Cạnh tranh bằng giá cả của doanh nghiệp được thể hiện qua: Cạnh tranh với mức giá ngang bằng giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh giá được khách hàng.
Nếu doanh nghiệp tìm được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo thì sản lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, lợi nhuận thu được sẽ nhiều.