Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Khái ni m Cạnh tranh Sự sống luôn vận động, song hành và phát triển cùng với quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực và cũng là phương thức để giúp xã hội tồn tại và đi lên.
Khái niệm về cạnh tranh là một khái niệm tương đối, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và nhìn nhận theo các góc độ với những quan điểm khác nhau. Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Các Mác nhận định “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch (Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng và Lê Danh Tốn, 2007, tr. Như vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy các chủ thể phải tự tạo cho mình lợi thế riêng để tối đa hoá lợi nhuận. Theo từ điển kinh doanh của Anh (1992) thì cạnh tranh được xem là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” (Lê Danh Vĩnh, 2010, tr.
Ở đây, khác với nhận định của Các Mác, cạnh tranh được nhìn nhận dưới góc độ sở hữu tài nguyên sản xuất và thu hút khách hàng hay nói cách khác, mục tiêu cạnh tranh của các chủ thể đã có định hướng khách hàng. Theo Michael Porter (2008, tr.6) cạnh tranh chính là việc giành lấy thị trường. 5 Tại Việt Nam, một số nhà khoa học cho rằng cạnh tranh được coi là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa- dịch vụ và đó là phương thức để dành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế. Theo Nguyễn Như Phát (2001), về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp.
Như vậy, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Theo Luật cạnh tranh (2004), không có khái niệm, định nghĩa cụ thể nào về cạnh tranh, mà Luật chỉ nhìn nhận vấn đề về cạnh tranh dưới hai hành vi: hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường, về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
(khoản 3,4 điều 3 Luật cạnh tranh 2004) Với các cách tiếp cận như trên, khái niệm về cạnh tranh có thể hiểu là quan hệ kinh tế mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để giành lấy lợi thế giúp giảm chi phí đầu vào và tăng giá sản phẩm đầu ra với chi phí đầu tư nhỏ nhất. Mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích, đối với người bán là lợi nhuận, đối với người mua là tiện lợi và giá rẻ. Hiện nay tại các quốc gia, cạnh tranh được coi là một xu thế tất yếu khách quan của nền kinh tế. Nó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giúp cân bằng các nguồn lực trong xã hội và nâng cao chất lượng đời sống.
Đối với DN, cạnh tranh vừa là cơ hội vừa là thách thức cho sự phát triển của DN bằng những nội lực tiềm ẩn để nâng cao NLCT của mình, thúc đầy DN luôn nỗ lực để tự hoàn thiện mình về mọi mặt. 6 Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà cạnh tranh được phân chia ra làm nhiều loại. Xét về cấp độ cạnh tranh, cạnh tranh có cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh DN, cạnh tranh quốc gia. Xét về thủ đoạn, ta có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Xét về tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được chia làm ba loại: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền (Nguyễn Thị Hạnh, 2014). Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả lựa chọn nghiên cứu cách phân loại cạnh tranh dựa trên tiêu chí cấp độ cạnh tranh để tìm hiểu NLCT tương ứng vời từng loại cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở ba cấp độ: NLCT quốc gia, NLCT DN và NLCT sản phẩm. Ba cấp độ này có mối quan hệ qua lại, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau.
Một quốc gia, một nền kinh tế có cạnh tranh cao phải có nhiều DN có khả năng cạnh tranh. Ngược lại, để tạo điều kiện cho DN có khả năng cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, nền kinh tế ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp. Khả năng cạnh tranh của DN được thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của DN được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của DN, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của DN. Là tế bào của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của DN tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời khả năng cạnh tranh của DN cũng thể hiện qua khả năng cạnh tranh của các sản phẩm mà DN đó kinh doanh. DN có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh. NLCT của sản phẩm là cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của DN và NLCT tổng thể quốc gia. NLCT của sản phẩm là cơ sở quan trọng để quyết định hướng chuyển dịch sản phẩm.
7 Như vậy, có thể khẳng định, nâng cao NLCT sản phẩm là yếu tố cơ bản để nâng cao NLCT doanh nghiệp đồng thời là mục tiêu để nâng cao NLCT quốc gia. Để hiểu đầy đủ khái niệm NLCT sản phẩm, việc nhận biết và phân loại những khái niệm NLCT này là điều cần thiết. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: chính là NLCT của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách và thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác hoặc có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, phân bổ hiệu quả các nguồn lực để đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Dưới góc độ của một nhà kinh tế Micheal Porter (2009, tr.40) đưa ra quan điểm mới về NLCT của quốc gia: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về NLCT của quốc gia là năng suất lao động”.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), thì NLCT quốc gia được hiểu là “năng lực của một nền kinh tế đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”. Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính, gồm: yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, cơ sở hạ tầng, thể chế); yếu tố nâng cao (giáo dục và đào tạo bậc cao, độ hiệu quả trên thị trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi – đột phá (sự tinh vi của hệ thống DN, khả năng đột phá) Như vậy, theo như những khái niệm trên, ta có thể hiểu NLCT của quốc gia chính là khả năng quốc gia đó tận dụng những ưu thế của quốc gia mình để duy trì và phát triển bền vững trong một môi trường kinh tế biến động của thị trường thế giới. Tại Viêt Nam, mặc dù thứ hạng hiện tại NLCT quốc gia đã tăng 12 bậc so với năm 2014 nhưng vị trí 56 trên 140 nền kinh tế vẫn thấp so với các quốc gia trong cùng khu vực. 8 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: là khả năng DN tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
NLCT của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Nói cách khác, NLCT của DN là năng lực cung cấp sản phẩm của chính DN trên các thị trường khác nhau với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường để hình thành khả năng tự tồn tại và phát triển. NLCT của DN là khả năng có thể đứng vững trên thi trường cạnh tranh mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất, là khả năng của DN thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được muc tiêu quan trọng nhất: lợi nhuận (Michael E. Porter, 2009) NLCT của DN có thể hiểu là khả năng DN thỏa mãn khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh thông qua việc khai thác, sử dụng lợi thế bên trong và bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh (Nguyễn Viết Lâm, 2014, tr.47) Như vậy, NLCT của DN được thể hiện thông qua ba loại cạnh tranh cơ bản: cạnh tranh bằng giá trị sử dụng (chất lượng, tính năng, mẫu mã), cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh bằng tổ chức tiêu thụ sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng.
Trong thực tế, các DN thường sử dụng cả ba loại cạnh tranh trên nhưng cũng tùy từng hòan cảnh cụ thể trong từng thời kì nhất định mà DN lựa chọn phương thức cạnh tranh phù hợp với điều kiện DN mình.