CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Năng lực cạnh tranh của ngành trong quá trình hội nhập quốc tế 1. Khái niệm về cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Trên thị trường, cạnh tranh là cuộc ganh đua giữa các doanh nghiệp nhằm tranh giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ.
Đồng thời cạnh tranh cũng là cơ chế vận động của thị trường, là động lực phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Quá trình cạnh tranh sẽ tạo ra sự phát triển tốt cho các doanh nghiệp nhưng cũng tạo ra sự phá sản cho những doanh nghiệp yếu kém, tạo ra một thị trường hay bức tranh khắc nghiệt trong quá trình vận động của nó. Về học thuật, từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa, “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” [16]. Có thể hiểu cạnh tranh là sự vươn lên không ngừng mệt mỏi để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật tốt nhất, cách quản lý khoa học nhất, lựa chọn các yếu tố đầu vào có chi phí thấp nhất để tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất.
Tạo ra sự khác biệt đối với các đối thủ cạnh tranh bằng chính sản phẩm tối ưu, giá thành tốt nhất, dịch vụ sau bán hàng và các tiêu chí khác làm khách hàng thỏa mãn nhất. Một khái niệm khác cho rằng “cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” [27]. 15 Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của OECD định nghĩa cạnh tranh trên cơ sở kết hợp doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [65].
Như vậy, tác giả xin được nêu quan niệm của mình về cạnh tranh của ngành như sau: “Cạnh tranh của ngành phản ánh quan hệ ganh đua giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành ở các nước trong khu vực hoặc thế giới và cùng bán trên một thị trường (Việt Nam hoặc quốc tế)”. Các doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh trong ngành hoặc ngành ở nước ngoài cạnh tranh với nhau bằng nhiều hình thức, biện pháp, thủ thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ luôn cùng hướng đến một mục tiêu đó là thị phần, hình ảnh, lợi nhuận mà đặc biệt là vị thế của họ trên thị trường mà họ tham gia. Các cấp độ cạnh tranh Trong nền kinh tế hội nhập khu vực và quốc tế thì các thuật ngữ “Cạnh tranh, năng lực cạnh tranh” được đề cập rất nhiều trong các nghiên cứu và thực tiễn. Cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được đề cập ở cấp độ quốc gia, cấp độ ngành hoặc doanh nghiệp hay cấp độ của sản phẩm.
* Cạnh tranh ở cấp độ Quốc gia: Cạnh tranh ở cấp độ Quốc gia thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của Chính phủ qua các chính sách của Nhà nước. Theo Uỷ ban Cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ [68] thì “cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó”. * Cạnh tranh ở cấp độ ngành: Cạnh tranh ở cấp độ ngành được phân tích theo quan điểm cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc ganh đua giữa các chủ thể cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hay cùng cung ứng ra thị trường cùng chủng loại dịch vụ nào đó.
Trong quá trình cạnh tranh sẽ xuất hiện có những doanh nghiệp phát triển 16 mạnh mẽ nhưng cũng có những doanh nghiệp sẽ lâm vào phá sản và sẽ hình thành nên sự thâu tóm lẫn nhau trong quá trình phát triển. Thông thường thị trường sẽ hình thành một mặt bằng giá đối với sản phẩm hay dịch vụ các doanh nghiệp trong nội bộ ngành cùng kinh doanh, do vậy những doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn sẽ tạo ra chi phí giá thành thấp và có lợi nhuận còn những doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu sẽ tạo ra các sản phẩm có giá thành cao hơn dẫn đến lợi nhuận thấp hoặc lỗ. Quá trình cạnh tranh diễn ra sẽ dẫn đến các doanh nghiệp thua lỗ sẽ phá sản hoặc sẽ có các cuộc sáp nhập lẫn nhau tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn. * Cạnh tranh giữa các ngành: Bản chất của cạnh tranh giữa các ngành là khả năng thu hồi vốn, điều kiện kinh doanh, tính thanh khoản của hàng hóa và đặc biệt là tỷ suất lợi nhuận mà các nhà đầu tư rót vốn để kinh doanh đối với các ngành kinh tế.
Do vậy các nhà đầu tư luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất trong những thời điểm thích hợp nhất dẫn đến dòng vốn đầu tư luôn di chuyển từ những ngành có khả năng sinh lời thấp đến ngành có khả năng sinh lời cao, từ những ngành rủi ro lớn sang các ngành có hệ số rủi ro thấp. * Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm: Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm thường được nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô. Các nghiên cứu thường tập trung vào yếu tố chất lượng sản phẩm, thương hiệu sản phẩm, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng. Nghiên cứu về cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm chủ yếu tập trung sâu vào các sản phẩm cùng ngành hàng hóa, có tính đặc thù giống nhau trong quá trình sản xuất và thương mại, chiến thắng sẽ thuộc về sản phẩm có tính cạnh tranh vượt trội.
Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003) thì cho rằng “sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh không phải mang tính chất nhất thời mà là một quá trình liên tục” [45]. Năng lực cạnh tranh 1. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Theo Michael Porter, “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có qui trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với 17 nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận” [29].
Năng lực cạnh tranh được phân biệt thành 4 cấp độ như sau: - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: là khả năng sản phẩm đó bán được nhanh với giá tốt khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, thương hiệu, quảng cáo, uy tín của người bán, chính sách hậu mãi v.v…Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường [15]. Đối với sản phẩm xuất khẩu, ngoài các dấu hiệu nhận biết nêu trên, năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm còn có thể được đánh giá thông qua Hệ số lợi thế so sánh biểu hiện (RCA). Hệ số này phản ánh vị trí lợi thế so sánh đạt được của sản phẩm trên thị trường quốc tế trong tương quan với tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia [66].
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh ở trong nước và quốc tế, doanh nghiệp có năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn của đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao để tồn tại và phát triển bền vững. Yếu tố nội hàm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực của đội ngũ nhân lực, công nghệ, tài chính, quản trị mà đặc biệt là người lãnh đạo…để luôn biết cách thích ứng với nhu cầu của thị trường, tạo ra các sản phẩm phù hợp nhưng vượt trội về các tiêu chí cơ bản so với các sản phẩm của doanh nghiệp khác, thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng trong phạm vi mong muốn và các hoàn cảnh thích ứng với những chi phí hợp lý nhất. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước [19]. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản 18 phẩm và dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh của ngành: là khả năng ngành phát huy được những lợi thế cạnh tranh và có năng suất so sánh cao hơn giữa các ngành cùng loại. - Năng lực cạnh tranh của quốc gia: được định nghĩa là “năng lực của nền kinh tế đạt được mức tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân” [15]. Đây là một khái niệm phức hợp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước. Một số tổ chức quốc tế (như Diễn đàn kinh tế thế giới WEF, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, Viện phát triển quản lý IMD ở Lausanne, Thụy Sĩ v.) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của các nền kinh tế trên thế giới.
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ trên có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.