Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Cần Thơ giữ vai trò đô thị trung tâm và là đầu mối giao thông huyết mạch của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn 2001 - 2008, kinh tế địa phương đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ 13,5% đến gần 16% mỗi năm, với thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt 23,5 triệu đồng. Song hành cùng đà phát triển kinh tế - xã hội, ngành du lịch thành phố ghi nhận bước tiến rõ nét khi tổng lượt khách tăng từ 693.055 lượt năm 2007 lên 1.174.823 lượt vào năm 2012, kéo theo tổng doanh thu du lịch tăng gấp 2,33 lần, từ 365,09 tỷ đồng lên 851,13 tỷ đồng.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển du lịch Cần Thơ đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn khiến tỷ trọng các chỉ tiêu ngành so với toàn vùng có dấu hiệu suy giảm trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tỉnh lân cận. Vấn đề cốt lõi là giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng của đô thị loại I trực thuộc Trung ương, thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,68 ngày và nguồn thu từ các hoạt động vui chơi giải trí còn quá khiêm tốn. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, đề tài tập trung khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Cần Thơ, nhận diện các yếu tố cản trở và thế mạnh đặc thù để xây dựng hệ thống giải pháp mang tính đột phá.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 9 quận, huyện thuộc thành phố Cần Thơ với diện tích tự nhiên 138.959,99 ha. Dữ liệu thực chứng tập trung phân tích sâu giai đoạn 2007 - 2012 và đề xuất phương hướng phát triển cho giai đoạn 2013 - 2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản trị tối ưu hóa công suất sử dụng buồng phòng từ mức 68% năm 2012 lên trên 75%, nâng mức nộp ngân sách vượt ngưỡng 69,38 tỷ đồng và định vị vững chắc thương hiệu trung tâm du lịch vùng Mekong.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp nhiều lý thuyết quản trị và kinh tế học du lịch kinh điển. Trọng tâm là mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến của Dwyer và Kim, kết hợp với lý thuyết năm thế lực cạnh tranh của Michael Porter và mô hình phát triển điểm đến bền vững của Crouch và Ritchie. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa khung tiêu chí đánh giá của Metin Kozak cùng bộ chỉ số của Diễn đàn Kinh tế Thế giới gồm 13 trụ cột và 70 biến số định lượng.

Khung phân tích vận dụng các khái niệm cốt lõi đã được chuẩn hóa:

  • Điểm đến du lịch: Không gian vật chất có ranh giới hành chính và quản lý xác định, nơi du khách lưu trú ít nhất một đêm và trải nghiệm chuỗi dịch vụ tổng hợp gồm sản phẩm, hạ tầng hỗ trợ và các hoạt động bổ sung.
  • Sản phẩm du lịch: Sự kết hợp hoàn chỉnh giữa tài nguyên tự nhiên, giá trị văn hóa lịch sử, hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách.
  • Năng lực cạnh tranh điểm đến: Khả năng của điểm đến trong việc cung ứng các trải nghiệm du lịch vượt trội, tạo ra mức độ hài lòng cao hơn đối thủ, thu hút thị phần bền vững và nâng cao mức sống thực tế cho cộng đồng bản địa.

Theo khung lý thuyết của Dwyer và Kim, năng lực cạnh tranh của Cần Thơ được đo lường thông qua 5 nhóm trụ cột chính với 79 chỉ số cụ thể: Nguồn lực thừa hưởng (11 chỉ số), Nguồn lực sáng tạo (17 chỉ số), Nguồn lực và nhân tố hỗ trợ (10 chỉ số), Năng lực quản lý điểm đến (37 chỉ số) và Điều kiện cầu (4 chỉ số).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp điều tra thực tiễn để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ, Niên giám Thống kê thành phố và Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch giai đoạn 2007 - 2012. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trong năm 2013.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cỡ mẫu điều tra đạt 350 mẫu hợp lệ. Trong đó gồm 100 phiếu khảo sát đại diện phía Cung (cán bộ quản lý nhà nước, chuyên gia du lịch, giám đốc điều hành doanh nghiệp lữ hành, khách sạn) và 250 phiếu khảo sát đại diện phía Cầu (du khách nội địa và quốc tế tại các điểm đến trọng điểm như Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng, Làng du lịch Mỹ Khánh). Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thuận tiện nhằm phản ánh đa chiều góc nhìn của các bên liên quan.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích đối chiếu tương quan Cung - Cầu qua thang đo khoảng Likert, phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và phương pháp tham vấn chuyên gia. Việc lựa chọn các phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác các tiêu chí định tính vô hình, nhận diện rõ độ lệch giữa kỳ vọng của du khách và năng lực cung ứng thực tế của địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2007 - 2012 làm sáng tỏ ba phát hiện trọng tâm về bức tranh du lịch Cần Thơ:

Thứ nhất, lượng khách và doanh thu tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng chi tiêu và thời gian lưu trú còn thấp. Tổng lượt khách du lịch tăng 69,5% từ 693.055 lượt năm 2007 lên 1.174.823 lượt năm 2012. Trong đó, khách quốc tế tăng từ 155.735 lượt lên 190.116 lượt, khách nội địa tăng từ 537.320 lượt lên 984.707 lượt. Tổng doanh thu tăng 133,1%, chạm mốc 851,13 tỷ đồng năm 2012. Tuy nhiên, thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,68 ngày (khách quốc tế là 1,37 ngày và khách nội địa là 1,74 ngày), cho thấy Cần Thơ phần lớn chỉ đóng vai trò điểm trung chuyển trong hành trình tour.

Thứ hai, hạ tầng cơ sở lưu trú mở rộng vượt bậc nhưng cơ cấu doanh thu dịch vụ giải trí bị mất cân đối nghiêm trọng. Toàn thành phố có 190 khách sạn với 4.749 phòng và 7.089 giường vào năm 2012, tăng 40,7% số khách sạn so với 135 cơ sở năm 2007. Khách sạn đạt chuẩn 1 đến 4 sao tăng mạnh từ 25 lên 61 cơ sở, nâng công suất phòng từ 56% lên 68%. Về cơ cấu doanh thu năm 2012, dịch vụ buồng phòng chiếm 305,38 tỷ đồng (35,9%) và ăn uống chiếm 275,61 tỷ đồng (32,4%), lữ hành đạt 209,96 tỷ đồng (24,7%), trong khi nguồn thu từ vui chơi giải trí chỉ đạt 1,20 tỷ đồng, chiếm vỏn vẹn 0,14% tổng doanh thu.

Thứ ba, nguồn nhân lực gia tăng về số lượng nhưng còn hạn chế về kỹ năng chuyên sâu. Tổng số lao động du lịch trực tiếp tăng từ 2.025 người năm 2007 lên 3.240 người năm 2012, với mức thu nhập bình quân tăng từ 1,75 triệu đồng lên 3,58 triệu đồng/tháng. Dẫu vậy, tỷ lệ nhân sự được đào tạo bài bản về nghiệp vụ quốc tế, khả năng ngoại ngữ và kỹ năng điều hành tour du lịch MICE cao cấp vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ mở rộng cơ sở vật chất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh thu vui chơi giải trí chiếm tỷ trọng rất thấp (dưới 1%) phản ánh sự thiếu hụt trầm trọng của các sản phẩm du lịch sáng tạo và dịch vụ kinh tế ban đêm. Dù Cần Thơ sở hữu tài nguyên sông nước miệt vườn phong phú với 65 km chiều dài sông Hậu chảy qua, hệ thống 11 điểm vườn du lịch sinh thái và 14 di tích văn hóa lịch sử, các sản phẩm hiện có như tham quan Chợ nổi Cái Răng, vườn cò Bằng Lăng hay cù lao Tân Lộc vẫn mang tính đơn lẻ, thiếu các show diễn văn hóa nghệ thuật quy mô lớn.

Khi đối chiếu với các mô hình kinh tế du lịch của Dwyer và Kim, sự tụt hậu về "Nguồn lực sáng tạo" và "Dịch vụ hỗ trợ" đã làm suy giảm sức hút tổng thể của điểm đến bất chấp "Nguồn lực thừa hưởng" rất giàu có. Để biểu diễn trực quan các phát hiện này trong các báo cáo chuyên sâu, dữ liệu doanh thu qua các năm nên được thiết kế dưới dạng biểu đồ cột chồng nhiều thành phần để làm nổi bật khoảng cách giữa doanh thu lưu trú, ẩm thực và vui chơi giải trí. Đồng thời, ma trận SWOT kết hợp với biểu đồ mạng nhện radar đa chiều là công cụ tối ưu để so sánh độ vênh điểm số đánh giá giữa phía Cung và phía Cầu trên từng nhóm chỉ số năng lực cạnh tranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Cần Thơ:

  • Tái cơ cấu và nâng cấp chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù: Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch sinh thái sông nước kết hợp nghỉ dưỡng cao cấp tại Cồn Ấu, Cồn Khương và phát triển phân khúc du lịch MICE gắn liền với hệ thống 12 phòng hội nghị quy mô 2.000 chỗ ngồi hiện có. Mục tiêu là nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,68 ngày lên 2,2 ngày vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành và Hiệp hội Du lịch Cần Thơ. Lộ trình triển khai: 2014 - 2018.
  • Hoàn thiện hạ tầng kết nối và xúc tiến mở rộng thị trường: Tận dụng tối đa công năng của Sân bay Quốc tế Cần Thơ (đường băng 2.400 m x 45 m, nhà ga 19.000 m2) để mở thêm 5 đến 7 tuyến bay thẳng kết nối các trung tâm du lịch nội địa và khu vực Đông Nam Á; đẩy nhanh tiến độ Cảng Cái Cui nhằm nâng công suất toàn cụm cảng đạt 7 - 8 triệu tấn/năm. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Dự án thành phố, Sở Giao thông Vận tải và Cục Hàng không Việt Nam. Lộ trình triển khai: 2014 - 2020.
  • Chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực du lịch: Tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuẩn quốc tế và bồi dưỡng kỹ năng số, ngoại ngữ cho 100% trong tổng số 3.240 lao động du lịch hiện hữu, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động có chứng chỉ chuyên môn đạt trên 50% vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn kết hợp cùng doanh nghiệp du lịch. Lộ trình triển khai: 2015 - 2019.
  • Gia tăng ngân sách quảng bá và liên kết tour tuyến liên vùng: Tăng ngân sách xúc tiến du lịch từ 15% đến 20% hàng năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông số để định vị thương hiệu du lịch Cần Thơ - Đô thị sông nước trung tâm vùng Mekong; thiết lập chuỗi tour khép kín kết nối Cần Thơ với An Giang, Kiên Giang và tuyến đường thủy quốc tế sang Campuchia. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Cần Thơ. Lộ trình triển khai: 2014 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn chuyên sâu, mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Các nhà hoạch định chính sách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch có thể ứng dụng các kết quả đánh giá ma trận SWOT và hệ thống chỉ số định lượng để xây dựng quy hoạch không gian du lịch, ban hành các cơ chế thu hút đầu tư và quản lý bền vững tài nguyên sinh thái.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành và khách sạn: Các nhà quản trị cơ sở lưu trú và công ty lữ hành có thể sử dụng dữ liệu Cung - Cầu để nhận diện phân khúc khách hàng tiềm năng, từ đó xây dựng các gói tour trải nghiệm mới lạ, nâng cao chất lượng buồng phòng và tối ưu hóa công suất phòng vượt mức 68%.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật trong lĩnh vực Quản trị dịch vụ du lịch và Du lịch học có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp mô hình Dwyer và Kim, cách thức thiết kế bảng hỏi khảo sát thực địa và quy trình xử lý dữ liệu để phát triển các đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến cấp vùng.
  • Các nhà đầu tư và phát triển dự án bất động sản du lịch: Các tập đoàn đầu tư hạ tầng có thể khai thác các số liệu về 138.959,99 ha diện tích tự nhiên, hệ thống giao thông thủy - bộ - không liên vùng và định hướng phát triển cụm cảng 8 triệu tấn để đánh giá tính khả thi khi đầu tư các khu phức hợp giải trí, nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp dọc sông Hậu.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là rào cản lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh của du lịch Cần Thơ trong giai đoạn nghiên cứu? Rào cản lớn nhất là thời gian lưu trú bình quân của du khách còn quá ngắn, chỉ đạt 1,68 ngày (khách quốc tế 1,37 ngày), và cơ cấu sản phẩm thiếu vắng các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp, khiến doanh thu từ mảng giải trí chỉ đạt 1,20 tỷ đồng năm 2012, chiếm 0,14% tổng doanh thu toàn ngành.

Mô hình của Dwyer và Kim đã được vận dụng cụ thể như thế nào trong luận văn? Mô hình được vận dụng làm khung tham chiếu toàn diện gồm 5 trụ cột với 79 chỉ số định lượng và định tính: Nguồn lực thừa hưởng (11 chỉ số), Nguồn lực sáng tạo (17 chỉ số), Nguồn lực hỗ trợ (10 chỉ số), Quản lý điểm đến (37 chỉ số) và Điều kiện cầu (4 chỉ số), giúp đánh giá chi tiết cả hai phía Cung và Cầu.

Vì sao cơ cấu doanh thu du lịch Cần Thơ có sự chênh lệch lớn giữa dịch vụ buồng phòng và vui chơi giải trí? Sự chênh lệch xuất phát từ việc thành phố tập trung đầu tư phát triển nhanh hệ thống 190 cơ sở lưu trú (đạt 4.749 phòng) mang lại doanh thu buồng 305,38 tỷ đồng, trong khi các sản phẩm giải trí về đêm, khu vui chơi chủ đề và trung tâm mua sắm chất lượng cao gần như chưa được khai thác đồng bộ.

Tiềm năng tự nhiên nổi bật nào tạo nên lợi thế cạnh tranh riêng biệt cho du lịch Cần Thơ? Thành phố sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc với sông Hậu dài 65 km mang lại 35 triệu m3 phù sa mỗi năm, hệ thống cù lao sinh thái bãi bồi như Cồn Ấu, Cồn Khương, cù lao Tân Lộc, cùng vườn cò Bằng Lăng bảo tồn hơn 20 loài chim và làng du lịch Mỹ Khánh đón hơn 40.000 lượt khách/năm.

Hạ tầng giao thông đóng vai trò đòn bẩy ra sao đối với sự phát triển của du lịch Cần Thơ? Hệ thống giao thông hoàn thiện với 5 tuyến quốc lộ dài 116 km, Sân bay Quốc tế Cần Thơ với đường băng 2.400 m và 3 cụm cảng hàng hải lớn tạo khả năng kết nối trực tiếp Cần Thơ với TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và các thị trường quốc tế trọng điểm như Thái Lan, Campuchia.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện một công trình nghiên cứu công phu, giải quyết trọn vẹn mục tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch thành phố Cần Thơ với 5 đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch thông qua việc vận dụng thành công mô hình tích hợp của Dwyer và Kim cùng khung tiêu chí của Michael Porter, Crouch và Ritchie.
  • Phân tích chi tiết nguồn dữ liệu thực chứng giai đoạn 2007 - 2012, làm rõ sự tăng trưởng về lượt khách (đạt 1.174.823 lượt) và doanh thu (đạt 851,13 tỷ đồng), đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về thời gian lưu trú 1,68 ngày và cơ cấu dịch vụ giải trí.
  • Nhận diện chính xác độ lệch trong đánh giá năng lực cạnh tranh giữa đại diện phía Cung (100 mẫu) và đại diện phía Cầu (250 mẫu) bằng phương pháp điều tra xã hội học và phân tích ma trận SWOT.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược và khả thi nhằm tái định vị sản phẩm, nâng cấp hạ tầng sân bay - bến cảng, chuẩn hóa 3.240 lao động và mở rộng liên kết vùng trong giai đoạn 2014 - 2020.
  • Xác lập cơ sở dữ liệu học thuật tin cậy cho các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy du lịch Cần Thơ phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Cần Thơ trở thành hạt nhân du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp về sản phẩm và hạ tầng ngay từ hôm nay. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác sâu các nguồn số liệu chi tiết trong công trình này để phục vụ công tác hoạch định và triển khai dự án thực tế.