Chương 1: Cơ sở khoa học về văn hóa công vụ Chương 2: Thực trạng văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Giải pháp thực hiện văn hóa công vụ của viên chức Trung tâm Văn hóa Thể thao và Truyền thông huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ 1. Những khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1.
Khái niệm về văn hóa - Văn hóa, hiểu theo tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình thành và phát triển con người xã hội.
Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội [26,tr. - Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá” thông qua tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức tại Mehico năm 1982, văn hoá được định nghĩa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được 11 những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ta để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [34. - Nói một cách ngắn gọn hơn: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc từng khẳng định bản sắc riêng của mình” [17, tr.
- Hiện nay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đang nhìn nhận văn hoá với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hoá như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm…khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội.Mayor, Nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra một khái niệm về văn hoá vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù : “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [42,tr. - Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hoá gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội…Văn hoá là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [41, tr. Cũng đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hoá, có thể kể đến như: 12 - Từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hoá” với 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống và tinh thần.
Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao về văn minh. Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hoá dùng để chỉ nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [28,tr. - Trong Xã hội học văn hoá, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hoá - vô sở bất tại: Văn hoá - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hoá; nơi nào có con người nơi đó có văn hoá” [16, tr. Những năm gần đây, nghiên cứu văn hoá thực sự trở thành một môn khoa học tại Việt Nam.
Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hoá tiếp tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hoá. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hoá, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [39,tr. Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hoá là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Có thể thấy, các cách hiểu có thể khác nhau từ những phương diện được hạn chế như những tiền đề được lý giải các vấn đề đặt ra, song trong mọi trường hợp khái niệm văn hoá và con người luôn luôn gắn kết với nhau.
Văn hoá là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hoá lại tham gia vào việc 13 tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hoá được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hoá là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân - Thiện - Mỹ.
Tóm lại, văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện và cái mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và hoạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội. Những giá trị, niềm tin này được xem xét trong hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Khái niệm về công vụ Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước - pháp lý, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đảm nhiệm theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hiểu một cách đơn giản hơn, công vụ là thực hành nhiệm vụ công phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, là một loại hoạt động mang tính quyền lực được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền, nhân dân ủy thác quyền lực nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Hoạt động công vụ là hoạt động do đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực thi, sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các chức năng và 14 nhiệm vụ của Nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia, vì mục đích phục vụ nhân dân. Công vụ mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tự, có tính thứ bậc chất chẽ, chính quy và liên tục, được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước.
Những nguyên tắc của chế độ công vụ: công vụ lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu hoạt động cán bộ, công chức thực hiện công vụ chịu sự giám sát của nhân dân, bị thay thế, bãi miễn khi không đủ năng lực và có hành vi vi phạm pháp luật; mọi công dân đều bình đẳng trong việc đảm nhiệm công vụ; quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định công khai trong văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Khái niệm về viên chức Theo Luật Cán bộ, công chức, viên chức sửa đổi năm 2019 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 thì viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Và cũng theo Luật Cán bộ, công chức, viên chức sửa đổi năm 2019 thì lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập cũng là viên chức. Viên chức được hiểu là người làm việc trong tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan nhà nước, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ 1 nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị của tổ chức chính trị, tổ chức tư nhân, nhà nước được tuyển dụng, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và những nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật.