phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo. Chƣơng 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao vai trò Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo. Các khái niệm * Nghèo đói Hiện nay, nghèo đói không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước giàu như Mỹ, Đức, Nhật. người nghèo vẫn còn và khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra.
Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói nghèo. Vì vậy, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà đã trở thành vấn đề quốc tế. Để giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải có quan niệm đúng về nó. Do mỗi quốc gia có trình độ phát triển kinh tế xã hội, điều kiện địa lý tự nhiên, trình độ dân trí, văn hóa, chính trị khác nhau, nên mỗi quốc gia lại có cách làm và giải pháp khác nhau.
Thậm chí ngay trong một quốc gia ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử cũng có sự khác nhau. Điều đó đã dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo. Chúng ta thường thấy một số khái niệm về nghèo như: đói nghèo, nghèo khổ, giàu nghèo, phân hóa giàu nghèo hay khoảng cách giàu nghèo, những khái niệm này được các học giả, các nhà khoa học định nghĩa dưới nhiều góc độ, khía cạch khác nhau như nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về văn hóa. Mặt khác, bên cạnh khái niệm nghèo, còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư.
Chính vì vậy, hiện nay chúng ta thường thấy khái niệm kép đói nghèo hoặc nghèo đói. 7 Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”[49,tr.
Đây là khái niệm khá đầy đủ, toàn diện về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, khái niệm này đã phân định đói nghèo theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Nhưng các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự chênh lệch về điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng, miền khác nhau. Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á -Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, nên đói nghèo còn được phân theo hai cấp độ: đói và nghèo.
* Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo. 8 Tài liệu của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã phân loại đói làm hai dạng (theo mốc đánh giá năm 1993): Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập dưới mức thu nhập là 12kg gạo/người/tháng.
Hay là tình trạng của một bộ phận dân cư ở nông thôn có thu nhập dưới mức 20.400 đồng/người/tháng và ở thành thị là 24.500 đồng/người/tháng. Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới mức 8 kg gạo/người/tháng và ở thành thị là 16.300 đồng/người/tháng. Ngoài ra còn có khái niệm khác nhằm làm rõ hơn tình trạng đói ở Việt Nam. Đói kinh niên: (tương ứng với đói truyền từ đời này qua đời khác) là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho tới thời điểm đang xét.
Đói cấp tính: (hay còn gọi là nghèo mới) là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như phá sản hoặc gặp các rủi ro như thiên tai, dịch bệch khác tại thời điểm xét. * Nghèo Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Khái niệm nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư với mức sống trung bình của địa phương trong một thời kỳ nhất định. Vì 9 vậy, việc xóa dần nghèo tuyệt đối là có thể làm, nhưng nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề ở đây là rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ. Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở những nước khác nhau.
10 Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo những chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác. Ngưỡng này có thể tăng lên đồng thời với thu nhập. Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ được xác định bằng một chuẩn mực nhất định. Chẳng hạn như ngưỡng quốc tế của sự nghèo khổ là 1USD/người/ngày.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm: Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ hàng hóa lương thực hàng ngày và được gọi là “ngưỡng nghèo về lương thực, thực phẩm”. Ngưỡng nghèo này thường thấp bởi vì nó không tính đến số tiền chi tiêu cho những sản phẩm phi lương thực khác. Ngưỡng nghèo thứ hai là “ngưỡng nghèo chung” bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực. Xuất phát từ nhu cầu calo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người: WB đã đưa ra con số phổ biến được sử dụng là 2.100 Kcal cho một người mỗi ngày.
Mỗi gia đình Việt Nam phải mất bao nhiêu tiền để mua được một rổ hàng hóa lương thực đủ để cung cấp 2.100 Kcal cho mỗi người một ngày. Vì vậy, nghèo theo định nghĩa của WB là những hộ không có khả năng chi trả cho số hàng hóa lương thực của mình để đủ cung cấp 2.100 Kcal cho mỗi người một ngày [42, tr48-49]. Mức chuẩn đánh giá nghèo đói * Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế: Chuẩn nghèo là thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều này có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước có thể xác định được đối tượng cần trợ giúp; hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp và tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp. Có 2 phương pháp xác định chuẩn nghèo: 11 Thứ nhất, phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu.
Là phương pháp do Ngân hàng thế giới khởi xướng.