Chương 1 CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước - đòi hỏi khách quan của sự nghiệp đổi mới 1. Doanh nghiệp nhà nước - thực trạng và nhu cầu đổi mới Sự sụp đổ của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp ở các nước xã hội chủ nghĩa cuối những năm 80 của thế kỷ trước đã thức tỉnh chúng ta nhìn nhận lại vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Đến nay, vẫn còn có sự nhầm lẫn khi nói: “Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta”, còn nhìn chung người ta đã hiểu đầy đủ hơn theo đúng tinh thần Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ghi rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) đã hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển…” [40, tr. Như vậy, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo chứ không phải là DNNN, trong khi nó chỉ là một bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước. Bởi vì theo quan niệm rộng, kinh tế nhà nước còn bao gồm cả: tài nguyên quốc gia như đất đai, khoáng sản, vùng trời, vùng biển, tài nguyên gió, nước…; kết 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu hạ tầng; dự trữ quốc gia; tài chính quốc gia… và cả lợi ích của Nhà nước trong các loại công ty cổ phần có vốn góp.
Không ai phủ nhận vai trò và những đóng góp của DNNN trong các cuộc kháng chiến và tái thiết đất nước sau hoà bình, thống nhất, đặc biệt là vai trò quyết định, chủ đạo trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Ngay cả trong thời kỳ đổi mới, DNNN đã đóng góp to lớn vào việc tạo ra “bộ mặt” kết cấu hạ tầng quốc gia, cầu nối chủ lực với kinh tế nước ngoài, đảm bảo nguồn lực thiết yếu cho dân chúng ở vùng sâu, vùng khó khăn và những nơi, những lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế quốc dân nhưng các thành phần kinh tế khác không làm được hoặc là không chịu làm do hiểu quả kinh tế thấp. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng trong thời gian qua DNNN đã thực sự là công cụ để Nhà nước bình ổn giá, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khẳng định vai trò quan trọng, tích cực của DNNN. Bên cạnh những thành tích đạt được, DNNN cũng bộc lộ nhiều yếu kém, nhiều ý kiến đánh giá đây là khu vực hoạt động có hiệu quả, kém năng động, gây lãng phí, tiêu cực tiền của của nhà nước nhiều nhất.
Nhiều vụ án kinh tế đã và đang xảy ra làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội, chính trị cho cả một tỉnh, một vùng hay một bộ. Không ít DNNN hoạt động trong những lĩnh vực độc quyền đã không làm được vai trò đem lại lợi ích cho dân mà ngược lại đã xâm phạm lợi ích của họ, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước; Đảng, Nhà nước cũng giảm lòng tin vào DNNN. Công nghệ, kỹ thuật chậm đổi mới, cơ chế quản lý nhùng nhằng, công tác cán bộ phức tạp… Nếu không khẩn trương đẩy mạnh đổi mới DNNN thì khả năng cạnh tranh ngay chính trên sân nhà đã khó chứ chưa nói gì hội nhập. Cụ thể: Thứ nhất, trong những thành tựu kinh tế - xã hội chung của đất nước sau 20 năm đổi mới thì DNNN đóng góp chưa tương xứng với tiềm năng và đầu tư của nhà nước, ngay cả những lĩnh vực mà nhà nước độc quyền.
Nhìn chung, DNNN kinh doanh kém hiệu quả, để xảy ra nhiều tiêu cực và lãng phí. Gần đây, báo chí đưa nhiều về sự chèn ép lẫn nhau ngay trong DNNN đang 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây thiệt hại cho người tiêu dùng và Nhà nước, không chỉ là câu chuyện “tranh cãi” giữa Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) với Viettel, EVN Telecom, mà cả chuyện thông thầu hay bỏ thầu với giá thấp dưới chi phí tối thiểu trong lĩnh vực xây dựng, giao thông và nhiều lĩnh vực khác v.v… Thứ hai, thành tựu kinh tế mà thế giới trân trọng là xuất khẩu cà phê, gạo và điều trong thời gian ngắn nước ta đã vươn lên đứng thứ hai thế giới thì Tổng công ty Cà phê Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng xuất khẩu chưa đầy 30% (còn lại là của các thành phần khác). Riêng về xuất khẩu hạt điều, chủ yếu là doanh nghiệp dân doanh. Cũng tương tự như vậy, hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam đang đứng thứ nhất thế giới thì chủ yếu cũng do dân doanh.
Lĩnh vực thuỷ sản lại càng khẳng định thêm điều đó (mặc dù có 3 tổng công ty thuỷ sản Nhà nước). Sản phẩm dệt may đang đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu (sau dầu khí), tuy vậy phần lớn hoạt động của ngành này cũng chỉ là gia công thuần tuý, sản phẩm có hàm lượng quốc gia quá ít, chủ yếu là tiền công, còn từ vải đến phụ liệu, máy móc thiết bị hầu hết nhập ngoại; và trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành này, Tập đoàn Dệt may của Nhà nước cũng chỉ chiếm khoảng 21% (năm 2005). Và trong 1 tỷ USD xuất khẩu đó hầu hết là từ các công ty cổ phần hóa. Thứ ba, kỹ thuật, công nghệ chậm đổi mới, nhìn chung dưới mức trung bình của khu vực và thế giới.
Nếu so với công nghệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì DNNN cũng chưa vươn kịp, nếu không nói là còn thấp trên nhiều mặt. Đã thế, động lực để đổi mới công nghệ còn rất yếu, vướng mắc nhiều rào cản về cơ chế chính sách và của cả bản thân yếu tố con người trong các DNNN (chẳng hạn, đưa công nghệ cao vào DNNN thì công nhân thừa đưa đi đâu?…). Các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao, hiện đại như điện tử, tin học mới chỉ chiếm vài phần trăm giá trị sản xuất công nghiệp. Thứ tư, quản trị doanh nghiệp phần lớn chưa đạt tiêu chuẩn ISO, nhìn vào DNNN đang nặng nề quy trình theo kiểu cũ.
Tính năng động thấp một 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phần do bản thân doanh nghiệp, một phần do cơ chế quản lý chưa tạo quyền chủ động cho DNNN như: Vấn đề nhân sự cấp cao của doanh nghiệp, cơ chế tài chính theo kiểu định mức chi phí trực tiếp chưa hướng tới lợi nhuận. Một số doanh nghiệp đang mắc cả cơ chế giá như: điện, xăng dầu, xi măng, sắt thép. Vì vậy năng suất lao động thấp, giá thành cao, sức cạnh tranh kém. Nhiều sản phẩm thiết yếu do DNNN sản xuất có giá bán cao hơn nhiều so với giá nhập khẩu.
Có thể nói, với vai trò dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, công cụ điều tiết, phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia của DNNN còn nhiều điều thấp xa so với mong muốn. Bên cạnh những yếu kém của DNNN thì nhiều khó khăn của DNNN có cái do chính yếu của DNNN tạo ra, có cái do cả quá trình lịch sử, có cái do cơ chế hiện hành. Sau nhiều năm Đảng và Chính phủ tập trung tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho DNNN bằng các định hướng lớn từ quan điểm đến luật lệ và các quy định cụ thể, DNNN đã được nâng cao hơn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh. Trên nhiều diễn đàn doanh nghiệp có nhiều ý kiến đòi hỏi cần phải đảm bảo bình đẳng một sân chơi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và yêu cầu Nhà nước phải tạo môi trường cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh như DNNN.
Một là, quyền tự chủ của doanh nghiệp: hầu hết những doanh nghiệp lớn đều phải kinh doanh theo chỉ định của Nhà nước. Ngay trong một mặt hàng kinh doanh cũng không thể có lãi thì làm, lỗ thì thôi, phải mua cái này, phải dự trữ cái kia, rồi phải bán theo khung giá này v.v… nhằm giúp Chính phủ trong điều tiết thị trường. Hai là, vấn đề nhân sự: Hầu hết các DNNN ở nước ta được thành lập từ thời bao cấp, đội ngũ lao động tay nghề lạc hậu nhưng lại có thói quen biến chế cả đời, thay họ không dễ, đó là chưa kể con cháu của ông A, ông B kính gửi. Họ có thâm niên, tuổi Công đoàn, tuổi Đảng cao hoặc hoàn cảnh kinh tế 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó khăn… Lãnh đạo doanh nghiệp, từ cán bộ chủ chốt đến các bộ phận, bên cạnh nhiều người có năng lực thực sự cũng vẫn còn không ít người kém cả về năng lực và phẩm chất.
Nhất là để thay hay bổ nhiệm một giám đốc doanh nghiệp với quy trình hiện nay thì rất khó chọn được người giỏi. Hoặc dẫu có người giỏi thì cũng khó có ai dám làm mạnh bởi còn phải “giữ gìn” để lấy tín nhiệm kỳ tiếp theo. Có một thực tế là nhiều cán bộ trưởng thành nhờ không làm gì nhiều nên không sai, còn làm nhiều ắt có sai và hầu như ai cũng gặp không ít khó khăn, do đó nhiều người đã chọn phương án “an toàn”. Ba là, những quy định về cơ chế điều hành DNNN sau rất nhiều cải cách nhưng chưa thoát được cơ chế “ bộ Tứ”, rồi nhùng nhằng giữa hội đồng quản trị và tổng giám đốc.
Những quy định về phân cấp quyền hạn cho họ tưởng là rõ nhưng không làm được. Ví dụ: Chủ tịch hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc cho thuê tổng giám đốc nhưng lại phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (Bộ, tỉnh…). Nhiều nơi tỉnh còn quyết định cả giám đốc công ty con của tổng công ty, hoặc quyết định cả phó giám đốc của công ty độc lập trực thuộc… Rồi cơ chế đầu tư, cơ chế phân chia lợi nhuận vẫn còn nhiều bế tắc cho doanh nghiệp.