CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. L ịch S ử hình thành tổ chức b ả 0 hiể m ti ền gửi Khái niệm bảo vệ tiền gửi được nhiều quốc gia biết đến từ khoảng đầu thế kỷ 20. Khi hoạt động B HTG công khai chưa xuất hiện, bảo vệ tiền gửri đã được nhiều quốc gia thực hiện dưới các hình thức “b ảo vệ ngầm”.
Hình thức bảo vệ ngầm là việc ngân hàng trung ương hay chính phủ có cam kết không công khai sẽ đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người gửri tiền nếu có hiện tượng đóng cửa ngân hàng xẩy ra và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm giữa người gửi tiền, ngân hàng và ngân hàng trung ương hay chính phủ. Đến nay, ở một số nước hình thức bảo vệ ngầm này vẫn c òn tồn tại. Nguồn gốc ra đời B HTG gắn liền với việc chuyển tử “b ảo vệ ngầm” sang "bảo vệ tiền gửi công khai".
Theo đó người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai. Chương trình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York vào năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng bao gồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Từ năm 1831 đến 1858, năm bang gồm: Vermont, Indiana, Michigan, Ohio, Iowa cũng đã thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự tham gia tự nguyện của các ngân hàng. Mục đích chung của chương trình B HTG tại các b ang này đều nhằm: (1) bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể và (2) bảo vệ người gửi tiền cá nhân và người gửi các công cụ huy động 6 tiền gửi.
Tuy nhiên hoạt động của các tổ chức BHTG này đều phải đóng cửa bởi một số nguyên nhân khách quan từ chính sách của Chính phủ, đó là: (i) Sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ năm 1830 đã tạo điều kiện cho một số luợng lớn các ngân hàng có thể rút ra khỏi tổ chức b ảo hiểm tiền gửi; (ii) Năm 1886, sự thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia cho phép các ngân hàng nhà nuớc bang chuyển thành ngân hàng quốc gia nên không tham gia BHTG. Thời kỳ thử nghiệm tiếp theo b ắt đầu của hoạt động B HTG b ắt đầu vào những năm 1908 - 1930 với sự thiết lập các quỹ BHTG tại 8 bang. Tuy nhiên, những chuơng trình B HTG triển khai trong thời kỳ này nói chung đều không thành công do ảnh huởng của điều kiện kinh tế bất lợi khiến nhiều ngân hàng đóng cửa dẫn đến tổ chức B HTG mất khả năng thanh toán. Những năm 1929 - 1933 Mỹ b uớc vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng với sự sụp đổ của thị truờng chứng khoán,trung bình mỗi năm có khoảng hơn 1.000 ngân hàng b ị đóng cửa, tổng số tổn thất của nguời gửi tiền lên tới 1,3 tỷ USD.
Đỉnh điểm là vào năm 1933, có đến 4.000 ngân hàng phải ngừng hoạt động, niềm tin của nguời gửi tiền b ị lung lay dữ dội, đặt ra một nhiệm vụ cấp ách cho chính quyền liên ang trong việc ảo vệ quyền l i nguời gửi tiền. Truớc tình thế đó, Tổng công ty B ảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC) đuợc thành lập và bắt đầu hoạt động từ ngày 1/1/1934. Đây đuợc xem là mô hình tổ chức bảo hiểm tiền g i công khai đầu tiên trên thế giới. Tiếp nối sự thành công của FDIC, những năm 1960 trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức B HTG, đó là Na uy (1961), Ấn Độ (1962), Philippines (1963), Đức (1966), Canada (1967) và Phần Lan (1969).
Đặc biệt, ngày 6/5/2002, Hiệp hội B ảo hiểm tiền gửi Quốc tế (International Association of Deposit Insurers - IADI) đuợc thành lập có trụ 7 sở tại Thụy Sỹ, là tiếng nói chung của các tổ chức B HTGthành viên.1 : Xu hướng P hát t riển hệ th ố ng BHTG t rên th ế giới (Nguồn: IADI) Đến nay, số lượng các quốc gia thực hiện hoạt động B HTG công khai vẫn tiếp tục gia tăng. Tính đến hết năm 2016, có 116 nước thực hiện chính sách B HTG công khai, tăng tới 38,09% so với con số 84 nước vào năm 2003. Xu hướng tăng trưởng này một phần bắt nguồn từ thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 khi có tới 10 quốc gia thiết lập hệ thống B HTG công khai chỉ trong hai năm 2008 và 2009. B ên cạnh đó, nhiều quốc gia khác cũng đang trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm xây dựng hệ thống B HTG công khai.
Va i t rò c ủ a b ả O hiể m tiền gửi 1. Khái niệm Bảo hiểm tiền g ửri là cam kết công khai của Tổ chức BHTG đối với các Tổ chức tham gia BHTG và người gửri tiền về việc Tổ chức BHTG sẽ hoàn trả 8 toàn bộ hoặc một phần số tiền gốc và lãi cho người gửi tiền khi Tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động hoặc không có khả năng thanh toán. Cụ thể tại Việt Nam, Luật BHTG năm 2012 của Quốc hội, quy định một số khái niệm cơ bản như sau: “+ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửri cho người được bảo hiểm tiền g i trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửri tiền hoặc phá sản. + Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền g i.
+ Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng đư c nhận tiền g i của cá nhân. + Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu l ợi nhuận, thực hiện chính sách b ảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn đ nh của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”. Mục đích Tuỳ thuộc vào hệ thống BHTG của mỗi quốc giađặt ra những mục đích khác nhau, nhưng nhìn chung lại những mục đích cơ b ản cần hướng đến là: - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Đây là mục tiêu cơ bản nhất của hoạt động BHTG, bởi người gửi tiền là đối tượng khó có khả năng tiếp cận thông tin về tình hình hoạt động quản trị, điều hành của tổ chức tài chính, tuy nhiên họ có thể sẽ phải là người gánh chịu rủi ro từ hoạt động đó mang lại.
Bởi vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng hình thức bảo hiểm tham gia bắt buộc đối với các tổ chức huy động tiền gửi từ dân cư; - Đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính quốc gia, ngăn 9 chặn đổ vỡ ngân hàng dây chuyền qua cơ chế giám sát, cảnh báo và hỗ trợ đối với các Tổ chức tham gia BHTG. - Xây dựng thị truờng tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau. Đối với những tổ chức tài chính có quy mô nhỏ, việc tạo dựng đuợc niềm tin của nguời gửi tiền không hề đơn giản, nhờ có chính sách B HTG mà công chúng sẽ yên tâm hơn khi g ửri tiền vào các tổ chức đó. - Giảm gánh nặng cho Chính phủ trong truờng hợp xử lý đổ vỡ của tổ chức tín dụng và điều này đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho nguời dân khi phải đóng thuế để Chính phủ hỗ trợ giải quyết những ngân hàng phá sản.
Chính sách BHTG đã phân tán rủi ro từ đầu bằng việc thu phí B HTG, chia sẻ cho nhiều b ên liên quan. Điều đó xét về hệ thống tài chính - ngân hàng nói riêng và trên toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ tạo ra tính ổn định cho xã hội. Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi B ảo hiểm tiền gửi không đơn thuần chỉ là một hoạt động b ảo hiểm nhằm phân tán rủi ro, bởi vì hàng hóa đuợc cung cấp ở đây là một dịch vụ công, dành cho toàn b ộ nguời gửi tiền. Chính vì vậy, BHTG đóng vai trò lớn đối với một quốc gia, đặc iệt là hệ thống tài chính.
- Tạo dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Những nguời gửi tiền cảm thấy yên tâm hơn khi số tiền của mình đuợc đảm bảo một cách công khai bởi quy định của pháp luật, giảm thiểu những nguy cơ đổ vỡ hàng loạt. Khi niềm tin vào hệ thống ngân hàng đuợc củng cố, xã hội sẽ có xu huớng tiết kiệm, nguồn vốn nhàn rỗi sẽ đuợc huy động tối đa nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế. - BHTG còn có vai trò quan trọng trong việc tạo sự phát triển lành mạnh hoạt động ngành ngân hàng.
Vì BHTG tạo ra “sân chơi bình đẳng” cho tất cả các tổ chức tín dụng, 10 đặc biệt là các tổ chức tín dụng có quy mô hoạt động nhỏ. Nếu không có B HTG thì thông thuờng nguời gửi tiền sẽ có cảm giác yên tâm hơn khi g ửi tiền vào các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, nếu có hoạt động của hệ thống BHTG thì họ cũng có thể lựa chọn những tổ chức tín dụng có quy mô nhỏ vì gửi tiền ở đâu thì tiền gửi của họ cũng antoàn. Điều đó thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển bình đẳng, tránh đuợc tình trạng thuhẹp cơ hội khách hàng đến với tổ chức tín dụng quy mô nhỏ hoặc loại hình khác nhau.
B ên cạnh đó, thông qua các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro các tổ chức tín dụng, B HTG đã góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng. BHTG có thể cảnh báo đến cơ quan chức năng hoặc tổ chức tín dụng về tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng có vấn đề để từ đó giúp các cơ quan chức năng hoặc tổ chức tín dụng có vấn đề có những hành động điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động. - Xử lý khủng hoảng tài chính, ngân hàng: Bảo hiểm tiền gửi là một công cụ giám sát của nhà nuớc.