Luận văn: Giải pháp nâng cao vai trò BHTG xử lý tổ chức tín dụng yếu kém

Luận văn phân tích vai trò BHTG trong xử lý TCTD yếu kém. Đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực giám sát cho BHTGVN.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2018

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1.1. Lịch sử hình thành tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.1.2. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi

1.1.3. Hoạt động cơ bản của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2. VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG QUÁ TRÌNH XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM

1.2.1. Những vấn đề chung về tái cơ cấu tổ chức tín dụng

1.2.2. Hoạt động xử lý tổ chức tín dụng yếu kém của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.3. KINH NGHIỆM XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM TẠI MỘT TỔ CHỨC BHTG TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1. Xử lý tổ chức tín dụng yếu kém của FDIC

1.3.2. Xử lý tổ chức tín dụng yếu kém của DICJ

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM TẠI BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

2.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

2.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

2.1.3. Các hoạt động chủ yếu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

2.2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM TẠI BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

2.2.1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh

2.2.2. Quá trình tham gia vào xử lý quỹ tín dụng nhân dân yếu kém

2.3. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THAM GIA XỬ LÝ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM TẠI BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

2.3.1. Những thành tựu đạt được

2.3.2. Những điểm còn hạn chế

2.3.3. Nguyên nhân những hạn chế

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ TRONG VIỆC XỬ LÝ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM TẠI BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ HIỆU QUẢ TRONG QUÁ TRÌNH XỬ LÝ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM

3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý về vai trò và quyền hạn của BHTGVN trong quá trình xử lý tổ chức tín dụng yếu kém

3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, kiểm tra

3.2.3. Áp dụng thu phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro

3.2.4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

3.2.5. Tăng cường năng lực tài chính cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

3.2.6. Kiến nghị với Chính Phủ

3.2.7. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò bảo hiểm tiền gửi xử lý TCTD yếu kém

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đóng vai trò kép: vừa là tấm lá chắn bảo vệ người gửi tiền, vừa là một công cụ quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành ngân hàng, vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) trong việc tham gia xử lý các Tổ chức tín dụng (TCTD) yếu kém ngày càng trở nên cấp thiết. Về bản chất, BHTG không chỉ thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm khi một TCTD đổ vỡ, mà còn tham gia sâu vào quá trình giám sát, cảnh báo sớm và hỗ trợ phục hồi. Điều này giúp ngăn chặn rủi ro lây lan, củng cố niềm tin công chúng và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Việc nâng cao vai trò này là một xu hướng tất yếu, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế, nhằm xây dựng một mạng an toàn tài chính quốc gia vững mạnh.

1.1. Mục tiêu kép Bảo vệ người gửi tiền và ổn định tài chính

Mục tiêu cơ bản nhất của chính sách BHTG là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ, ít có khả năng tiếp cận thông tin để đánh giá sức khỏe của một TCTD. Khi một TCTD gặp sự cố, việc chi trả kịp thời giúp người dân an tâm, tránh hiện tượng rút tiền hàng loạt gây đổ vỡ dây chuyền. Bên cạnh đó, BHTG còn là một trụ cột của mạng an toàn tài chính quốc gia. Thông qua các nghiệp vụ như giám sát, kiểm tra và tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt TCTD, tổ chức BHTG góp phần phát hiện sớm các rủi ro, đưa ra cảnh báo và tham gia vào các phương án xử lý. Điều này không chỉ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước khi xử lý khủng hoảng mà còn thúc đẩy một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nơi các TCTD, bất kể quy mô, đều hoạt động an toàn và hiệu quả hơn.

1.2. Bối cảnh cấp thiết của việc tái cơ cấu TCTD tại Việt Nam

Quá trình tái cơ cấu TCTD là một nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước nhằm lành mạnh hóa hệ thống. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn, đòi hỏi một cơ chế xử lý ngân hàng yếu kém hiệu quả. Trong bối cảnh này, vai trò của DIV không thể chỉ dừng lại ở việc chi trả sau đổ vỡ. Việc nâng cao vai trò để DIV có thể chủ động tham gia sâu hơn vào quá trình xử lý, từ giai đoạn can thiệp sớm đến việc xây dựng phương án phục hồi hoặc cho phá sản có kiểm soát, là yêu cầu khách quan. Như kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 cho thấy, BHTG là công cụ hữu hiệu để tái lập niềm tin và ổn định hệ thống. Do đó, việc trao thêm quyền hạn và nguồn lực cho DIV là bước đi chiến lược để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng.

II. Phân tích hạn chế trong vai trò BHTG xử lý TCTD yếu kém

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc xử lý các TCTD yếu kém vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Hạn chế lớn nhất đến từ khung pháp lý cho BHTG chưa thực sự trao đủ quyền hạn để can thiệp sớm và hiệu quả. Bên cạnh đó, năng lực tài chính của BHTG còn mỏng, chủ yếu dựa vào nguồn thu phí cố định, gây khó khăn khi cần nguồn lực lớn để hỗ trợ tài chính cho TCTD trong diện kiểm soát đặc biệt. Cơ chế phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan khác đôi khi còn chồng chéo, chưa tạo ra một quy trình xử lý liền mạch. Những vướng mắc này làm giảm hiệu quả của DIV trong vai trò là một công cụ giảm thiểu rủi ro, đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục.

2.1. Vướng mắc trong khung pháp lý và quyền hạn can thiệp

Theo quy định hiện hành trong Luật Bảo hiểm tiền gửiLuật các Tổ chức tín dụng, vai trò của DIV trong quá trình xử lý TCTD yếu kém còn khá bị động. DIV chủ yếu tham gia với tư cách là thành viên Ban kiểm soát đặc biệt, nhưng quyền quyết định các phương án xử lý cuối cùng vẫn thuộc về Ngân hàng Nhà nước. Thẩm quyền can thiệp sớm, yêu cầu TCTD xây dựng phương án khắc phục, hay chủ động đề xuất các biện pháp xử lý còn hạn chế. Điều này làm chậm quá trình ra quyết định và có thể bỏ lỡ "thời điểm vàng" để cứu một TCTD có khả năng phục hồi với chi phí thấp nhất. Hơn nữa, việc thiếu các quy định rõ ràng về cơ chế cho vay hỗ trợ, mua lại tài sản hay thành lập ngân hàng bắc cầu cũng là rào cản lớn, khiến DIV khó áp dụng các thông lệ quốc tế hiệu quả.

2.2. Thách thức về năng lực tài chính của quỹ bảo hiểm tiền gửi

Quỹ bảo hiểm tiền gửi là nguồn lực cốt lõi để DIV thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nguồn quỹ này chủ yếu đến từ phí BHTG đồng hạng (0,15%/năm), chưa áp dụng cơ chế thu phí theo mức độ rủi ro. Điều này vừa không tạo động lực cho các TCTD quản trị rủi ro tốt hơn, vừa khiến nguồn thu của quỹ tăng trưởng chậm. Với quy mô hiện tại, năng lực tài chính của BHTG có thể không đủ để xử lý đồng thời nhiều TCTD, đặc biệt là các ngân hàng có quy mô lớn. Việc thiếu các cơ chế huy động vốn linh hoạt khác như vay từ Chính phủ hoặc NHNN trong trường hợp khẩn cấp cũng là một điểm yếu, làm giảm tính chủ động và sẵn sàng của DIV trước các cú sốc hệ thống.

III. Hướng dẫn hoàn thiện khung pháp lý cho BHTG xử lý TCTD

Để thực sự nâng cao vai trò của BHTG, giải pháp nền tảng là hoàn thiện khung pháp lý cho BHTG. Trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi và các văn bản liên quan để trao cho DIV những quyền hạn thực chất hơn. Cần luật hóa vai trò của DIV như một "người xử lý đổ vỡ" (resolution authority), cho phép tổ chức này không chỉ tham gia mà còn chủ động đề xuất và thực thi các phương án xử lý TCTD yếu kém. Việc mở rộng các công cụ xử lý như hỗ trợ tài chính, mua và nhận nợ (P&A), thành lập ngân hàng bắc cầu... là cần thiết để DIV có thể lựa chọn phương án tối ưu, tuân thủ nguyên tắc chi phí thấp nhất. Một hành lang pháp lý rõ ràng sẽ tạo cơ sở để DIV hành động quyết liệt, hiệu quả, góp phần bảo vệ tốt hơn người gửi tiền và an toàn hệ thống ngân hàng.

3.1. Mở rộng quyền hạn của DIV trong quá trình kiểm soát đặc biệt

Cần quy định rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của DIV khi tham gia xử lý TCTD trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt. DIV không chỉ là đơn vị giám sát mà cần có thẩm quyền đánh giá độc lập tình trạng tài chính, đề xuất phương án tái cơ cấu và thậm chí là phủ quyết các phương án không khả thi. Luật cần cho phép DIV tiếp cận đầy đủ, kịp thời mọi thông tin của TCTD bị kiểm soát đặc biệt. Hơn nữa, cần trao quyền cho DIV được chủ động lựa chọn và chỉ định nhân sự có năng lực tham gia vào ban điều hành tạm thời của TCTD, nhằm đảm bảo các hoạt động khắc phục được triển khai đúng hướng và minh bạch, bảo vệ tối đa tài sản còn lại của TCTD.

3.2. Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ quốc tế

Việc sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi nên tham khảo kinh nghiệm từ các mô hình thành công như FDIC của Mỹ. Cụ thể, cần bổ sung các quy định về các phương thức xử lý đổ vỡ linh hoạt. Ví dụ, cho phép DIV thực hiện giao dịch mua và nhận nợ (P&A), nơi một TCTD khỏe mạnh mua lại tài sản tốt và gánh các khoản tiền gửi của TCTD yếu kém. Hoặc trao thẩm quyền thành lập "ngân hàng bắc cầu" để tiếp quản hoạt động của TCTD đổ vỡ, duy trì các dịch vụ thiết yếu trong thời gian tìm kiếm nhà đầu tư mới. Những công cụ này giúp giảm thiểu gián đoạn cho khách hàng, duy trì giá trị của TCTD và thực hiện nguyên tắc xử lý với chi phí thấp nhất cho quỹ bảo hiểm tiền gửi.

IV. Phương pháp nâng cao năng lực tài chính và giám sát của DIV

Bên cạnh khung pháp lý, việc nâng cao năng lực nội tại là yếu tố sống còn. Cần có lộ trình cụ thể để tăng cường năng lực tài chính của BHTG, bắt đầu bằng việc chuyển đổi sang cơ chế thu phí theo rủi ro. Điều này không chỉ tăng nguồn thu mà còn thúc đẩy các TCTD quản trị lành mạnh hơn. Song song đó, hoạt động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ phải được hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ để phân tích và cảnh báo rủi ro sớm. Đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về xử lý khủng hoảng, tái cơ cấu và định giá tài sản là bắt buộc. Một DIV mạnh về tài chính, sắc bén về chuyên môn sẽ là đối tác tin cậy của Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ gìn sự ổn định tài chính.

4.1. Áp dụng cơ chế thu phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro

Chuyển từ mô hình thu phí đồng hạng sang thu phí BHTG theo mức độ rủi ro là một cải cách quan trọng. Theo cơ chế này, các TCTD có hoạt động rủi ro cao hơn (ví dụ: chất lượng tài sản thấp, quản trị yếu kém) sẽ phải trả mức phí cao hơn, và ngược lại. Điều này tạo ra sự công bằng và khuyến khích các TCTD chủ động cải thiện quản trị rủi ro để giảm chi phí. Để thực hiện, DIV cần xây dựng một hệ thống xếp hạng rủi ro minh bạch, dựa trên các chỉ số an toàn vốn, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, thu nhập và thanh khoản (mô hình CAMELS). Việc này không chỉ làm tăng quy mô quỹ bảo hiểm tiền gửi mà còn giúp giảm thiểu rủi ro đạo đức (moral hazard) trong hệ thống.

4.2. Hiện đại hóa công tác giám sát và phát triển nguồn nhân lực

Hiệu quả của việc tham gia xử lý TCTD phụ thuộc lớn vào khả năng phát hiện sớm vấn đề. Do đó, DIV cần đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ cho hoạt động giám sát từ xa, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung và các mô hình cảnh báo sớm. Đồng thời, cần xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên trách, có kỹ năng chuyên sâu về phân tích tài chính, luật, định giá tài sản và quản lý khủng hoảng. Luận văn nhấn mạnh việc tổ chức các chương trình đào tạo, mô phỏng các tình huống xử lý đổ vỡ ngân hàng để nhân viên luôn sẵn sàng ứng phó trong các tình huống khẩn cấp, học hỏi từ kinh nghiệm của FDIC và DICJ.

V. Bài học quốc tế nâng cao vai trò BHTG xử lý TCTD yếu kém

Kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) và Tổng công ty BHTG Nhật Bản (DICJ), cung cấp những bài học quý giá. Các tổ chức này hoạt động theo mô hình "giảm thiểu rủi ro" với quyền hạn rất rộng, từ can thiệp sớm đến trực tiếp xử lý đổ vỡ. FDIC nổi tiếng với nguyên tắc "chi phí thấp nhất" và phương pháp P&A linh hoạt. Trong khi đó, DICJ có kinh nghiệm trong việc sử dụng ngân hàng bắc cầu và công ty quản lý tài sản (RCC) để xử lý nợ xấu. Những bài học này cho thấy một hành lang pháp lý vững chắc, nguồn lực tài chính dồi dào và các công cụ xử lý đa dạng là chìa khóa để một tổ chức BHTG phát huy tối đa vai trò, đảm bảo quá trình xử lý TCTD yếu kém diễn ra nhanh chóng, trật tự và hiệu quả.

5.1. Mô hình xử lý theo nguyên tắc chi phí thấp nhất của FDIC

FDIC được trao quyền hạn rất lớn để xử lý các ngân hàng đổ vỡ, hoạt động dựa trên nguyên tắc cốt lõi là lựa chọn phương án gây ra chi phí thấp nhất cho quỹ bảo hiểm tiền gửi. Phương pháp phổ biến nhất là P&A (Mua và nhận nợ), giúp chuyển giao các khoản tiền gửi và tài sản tốt sang một ngân hàng lành mạnh một cách nhanh chóng, thường là chỉ sau một cuối tuần. Điều này giúp khách hàng gần như không cảm nhận được sự gián đoạn dịch vụ. Sự thành công của FDIC đến từ ba yếu tố chính: (1) Khung pháp lý rõ ràng trao quyền tuyệt đối cho FDIC làm "người tiếp nhận xử lý"; (2) Nguồn lực tài chính cực lớn và linh hoạt; (3) Quy trình xử lý đổ vỡ được chuẩn hóa, nhanh chóng và chuyên nghiệp.

5.2. Kinh nghiệm từ DICJ Nhật Bản về ngân hàng bắc cầu và RCC

Đối mặt với khủng hoảng ngân hàng trong quá khứ, Nhật Bản đã trao cho DICJ nhiều công cụ mạnh mẽ. Một trong số đó là quyền thành lập "ngân hàng bắc cầu" (Bridge Bank) để tạm thời tiếp quản hoạt động của một ngân hàng đổ vỡ, duy trì hoạt động kinh doanh liên tục trong khi tìm kiếm giải pháp lâu dài. Ngoài ra, DICJ đã thành lập Tổng công ty thu hồi và xử lý (RCC) để chuyên mua lại và xử lý các khoản nợ xấu từ các TCTD, giúp làm sạch bảng cân đối kế toán. Bài học từ Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có các công cụ chuyên biệt để xử lý các loại tài sản khác nhau (tài sản tốt và tài sản xấu), và sự cần thiết của một đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản, sẵn sàng cho các tình huống phức tạp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
658 giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc xử lý tổ chức tín dụng yếu kém luận văn thạc sỹ kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. L ịch S ử hình thành tổ chức b ả 0 hiể m ti ền gửi Khái niệm bảo vệ tiền gửi được nhiều quốc gia biết đến từ khoảng đầu thế kỷ 20. Khi hoạt động B HTG công khai chưa xuất hiện, bảo vệ tiền gửri đã được nhiều quốc gia thực hiện dưới các hình thức “b ảo vệ ngầm”.

Hình thức bảo vệ ngầm là việc ngân hàng trung ương hay chính phủ có cam kết không công khai sẽ đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người gửri tiền nếu có hiện tượng đóng cửa ngân hàng xẩy ra và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm giữa người gửi tiền, ngân hàng và ngân hàng trung ương hay chính phủ. Đến nay, ở một số nước hình thức bảo vệ ngầm này vẫn c òn tồn tại. Nguồn gốc ra đời B HTG gắn liền với việc chuyển tử “b ảo vệ ngầm” sang "bảo vệ tiền gửi công khai".

Theo đó người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai. Chương trình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York vào năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng bao gồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Từ năm 1831 đến 1858, năm bang gồm: Vermont, Indiana, Michigan, Ohio, Iowa cũng đã thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự tham gia tự nguyện của các ngân hàng. Mục đích chung của chương trình B HTG tại các b ang này đều nhằm: (1) bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể và (2) bảo vệ người gửi tiền cá nhân và người gửi các công cụ huy động 6 tiền gửi.

Tuy nhiên hoạt động của các tổ chức BHTG này đều phải đóng cửa bởi một số nguyên nhân khách quan từ chính sách của Chính phủ, đó là: (i) Sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ năm 1830 đã tạo điều kiện cho một số luợng lớn các ngân hàng có thể rút ra khỏi tổ chức b ảo hiểm tiền gửi; (ii) Năm 1886, sự thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia cho phép các ngân hàng nhà nuớc bang chuyển thành ngân hàng quốc gia nên không tham gia BHTG. Thời kỳ thử nghiệm tiếp theo b ắt đầu của hoạt động B HTG b ắt đầu vào những năm 1908 - 1930 với sự thiết lập các quỹ BHTG tại 8 bang. Tuy nhiên, những chuơng trình B HTG triển khai trong thời kỳ này nói chung đều không thành công do ảnh huởng của điều kiện kinh tế bất lợi khiến nhiều ngân hàng đóng cửa dẫn đến tổ chức B HTG mất khả năng thanh toán. Những năm 1929 - 1933 Mỹ b uớc vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng với sự sụp đổ của thị truờng chứng khoán,trung bình mỗi năm có khoảng hơn 1.000 ngân hàng b ị đóng cửa, tổng số tổn thất của nguời gửi tiền lên tới 1,3 tỷ USD.

Đỉnh điểm là vào năm 1933, có đến 4.000 ngân hàng phải ngừng hoạt động, niềm tin của nguời gửi tiền b ị lung lay dữ dội, đặt ra một nhiệm vụ cấp ách cho chính quyền liên ang trong việc ảo vệ quyền l i nguời gửi tiền. Truớc tình thế đó, Tổng công ty B ảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC) đuợc thành lập và bắt đầu hoạt động từ ngày 1/1/1934. Đây đuợc xem là mô hình tổ chức bảo hiểm tiền g i công khai đầu tiên trên thế giới. Tiếp nối sự thành công của FDIC, những năm 1960 trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức B HTG, đó là Na uy (1961), Ấn Độ (1962), Philippines (1963), Đức (1966), Canada (1967) và Phần Lan (1969).

Đặc biệt, ngày 6/5/2002, Hiệp hội B ảo hiểm tiền gửi Quốc tế (International Association of Deposit Insurers - IADI) đuợc thành lập có trụ 7 sở tại Thụy Sỹ, là tiếng nói chung của các tổ chức B HTGthành viên.1 : Xu hướng P hát t riển hệ th ố ng BHTG t rên th ế giới (Nguồn: IADI) Đến nay, số lượng các quốc gia thực hiện hoạt động B HTG công khai vẫn tiếp tục gia tăng. Tính đến hết năm 2016, có 116 nước thực hiện chính sách B HTG công khai, tăng tới 38,09% so với con số 84 nước vào năm 2003. Xu hướng tăng trưởng này một phần bắt nguồn từ thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 khi có tới 10 quốc gia thiết lập hệ thống B HTG công khai chỉ trong hai năm 2008 và 2009. B ên cạnh đó, nhiều quốc gia khác cũng đang trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm xây dựng hệ thống B HTG công khai.

Va i t rò c ủ a b ả O hiể m tiền gửi 1. Khái niệm Bảo hiểm tiền g ửri là cam kết công khai của Tổ chức BHTG đối với các Tổ chức tham gia BHTG và người gửri tiền về việc Tổ chức BHTG sẽ hoàn trả 8 toàn bộ hoặc một phần số tiền gốc và lãi cho người gửi tiền khi Tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động hoặc không có khả năng thanh toán. Cụ thể tại Việt Nam, Luật BHTG năm 2012 của Quốc hội, quy định một số khái niệm cơ bản như sau: “+ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửri cho người được bảo hiểm tiền g i trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửri tiền hoặc phá sản. + Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền g i.

+ Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng đư c nhận tiền g i của cá nhân. + Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu l ợi nhuận, thực hiện chính sách b ảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn đ nh của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”. Mục đích Tuỳ thuộc vào hệ thống BHTG của mỗi quốc giađặt ra những mục đích khác nhau, nhưng nhìn chung lại những mục đích cơ b ản cần hướng đến là: - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Đây là mục tiêu cơ bản nhất của hoạt động BHTG, bởi người gửi tiền là đối tượng khó có khả năng tiếp cận thông tin về tình hình hoạt động quản trị, điều hành của tổ chức tài chính, tuy nhiên họ có thể sẽ phải là người gánh chịu rủi ro từ hoạt động đó mang lại.

Bởi vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng hình thức bảo hiểm tham gia bắt buộc đối với các tổ chức huy động tiền gửi từ dân cư; - Đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính quốc gia, ngăn 9 chặn đổ vỡ ngân hàng dây chuyền qua cơ chế giám sát, cảnh báo và hỗ trợ đối với các Tổ chức tham gia BHTG. - Xây dựng thị truờng tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau. Đối với những tổ chức tài chính có quy mô nhỏ, việc tạo dựng đuợc niềm tin của nguời gửi tiền không hề đơn giản, nhờ có chính sách B HTG mà công chúng sẽ yên tâm hơn khi g ửri tiền vào các tổ chức đó. - Giảm gánh nặng cho Chính phủ trong truờng hợp xử lý đổ vỡ của tổ chức tín dụng và điều này đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho nguời dân khi phải đóng thuế để Chính phủ hỗ trợ giải quyết những ngân hàng phá sản.

Chính sách BHTG đã phân tán rủi ro từ đầu bằng việc thu phí B HTG, chia sẻ cho nhiều b ên liên quan. Điều đó xét về hệ thống tài chính - ngân hàng nói riêng và trên toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ tạo ra tính ổn định cho xã hội. Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi B ảo hiểm tiền gửi không đơn thuần chỉ là một hoạt động b ảo hiểm nhằm phân tán rủi ro, bởi vì hàng hóa đuợc cung cấp ở đây là một dịch vụ công, dành cho toàn b ộ nguời gửi tiền. Chính vì vậy, BHTG đóng vai trò lớn đối với một quốc gia, đặc iệt là hệ thống tài chính.

- Tạo dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Những nguời gửi tiền cảm thấy yên tâm hơn khi số tiền của mình đuợc đảm bảo một cách công khai bởi quy định của pháp luật, giảm thiểu những nguy cơ đổ vỡ hàng loạt. Khi niềm tin vào hệ thống ngân hàng đuợc củng cố, xã hội sẽ có xu huớng tiết kiệm, nguồn vốn nhàn rỗi sẽ đuợc huy động tối đa nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế. - BHTG còn có vai trò quan trọng trong việc tạo sự phát triển lành mạnh hoạt động ngành ngân hàng.

Vì BHTG tạo ra “sân chơi bình đẳng” cho tất cả các tổ chức tín dụng, 10 đặc biệt là các tổ chức tín dụng có quy mô hoạt động nhỏ. Nếu không có B HTG thì thông thuờng nguời gửi tiền sẽ có cảm giác yên tâm hơn khi g ửi tiền vào các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, nếu có hoạt động của hệ thống BHTG thì họ cũng có thể lựa chọn những tổ chức tín dụng có quy mô nhỏ vì gửi tiền ở đâu thì tiền gửi của họ cũng antoàn. Điều đó thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển bình đẳng, tránh đuợc tình trạng thuhẹp cơ hội khách hàng đến với tổ chức tín dụng quy mô nhỏ hoặc loại hình khác nhau.

B ên cạnh đó, thông qua các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro các tổ chức tín dụng, B HTG đã góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng. BHTG có thể cảnh báo đến cơ quan chức năng hoặc tổ chức tín dụng về tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng có vấn đề để từ đó giúp các cơ quan chức năng hoặc tổ chức tín dụng có vấn đề có những hành động điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động. - Xử lý khủng hoảng tài chính, ngân hàng: Bảo hiểm tiền gửi là một công cụ giám sát của nhà nuớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ