Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 1. Khái niệm người lao động Bên cạnh các nguồn lực vật chất thì nguồn lực người lao động (NLĐ) luôn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp (DN), bởi lẽ nó quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của DN. Với tầm quan trọng này, đã có nhiều quan điểm khác nhau về NLĐ đã được xây dựng: Từ điển Kinh tế học (2006): “Người làm thuê hay NLĐ là người được người khác hoặc DN thuê để cung cấp dịch vụ lao động với tư cách là đầu vào”.
Theo quan điểm của kinh tế chính trị: “NLĐ là người trực tiếp cung cấp sức lao động - một yếu tố sản xuất mang tính quyết định và cũng là một dạng dịch vụ/hàng hóa đặc biệt của nền sản xuất xã hội”. Theo Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13: “NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [1]. Trên cơ sở những quan điểm khác nhau về NLĐ, tựu chung lại có thể hiểu: NLĐ là những người đủ 15 tuổi trở lên, có năng lực lao động; làm việc theo những điều khoản của hợp đồng lao động; được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động; được hưởng quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSP) Trong cuốn sách với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” của Bowen (1953), thuật ngữ trách nhiệm xã hội (TNXH) chính thức được định hình.
Theo đó, TNXH là đề cập đến nghĩa vụ của DN để theo đuổi các chính sách, thực hiện những quyết định, hành động được kỳ vọng để đạt được các mục tiêu và giá trị của xã hội. e -8- Năm 1979, Carroll đã đưa ra khái niệm TNXH như sau: “Trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở mỗi doanh nghiệp trong những thời điểm nhất định”. Mô hình kim tự tháp của Carroll (1979) đề cập đến 4 khía cạnh của thực hiện CSR theo thứ bậc được đánh giá là có tính toàn diện và được áp dụng rộng rãi trong việc tiếp cận triển khai CSR. Theo đó, CSR được ưu tiên thực hiện theo 4 mức trách nhiệm: Trách nhiệm kinh tế; Trách nhiệm pháp lý; Trách nhiệm đạo đức; và Trách nhiệm từ thiện [27].
Mô hình kim tự tháp TNXH (Nguồn: Web dankinhte.vn, 2020) - Trách nhiệm kinh tế: đây là trách nhiệm đầu tiên. Các mục tiêu như tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết để DN tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng trong hoạt động kinh tế của DN cũng góp phần cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, khi trách nhiệm kinh tế được đảm bảo thì DN mới có thể đáp ứng các trách nhiệm khác.
- Trách nhiệm pháp lý: chính là sự cam kết của DN với xã hội. Mọi hoạt động của DN đều nằm trong khuôn khổ pháp luật. Trong quá trình tìm kiếm các mục tiêu kinh tế, DN chịu sự điều chỉnh của luật pháp. DN không thể tồn tại lâu dài khi các hành vi của nó nằm ngoài khuôn khổ pháp luật nhà nước.
e -9- Do đó, trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai thành tố cơ bản, không thể thiếu của DN. - Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Việc DN tuân thủ pháp luật là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Hơn thế nữa, xã hội còn kỳ vọng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động có lợi ích cho xã hội hơn cả những điều quy định trong luật pháp như các chế độ hỗ trợ đối với NLĐ, chăm sóc khách hàng, quan hệ với nhà cung ứng, cổ đông, đối thủ cạnh tranh….
Mặc dù trách nhiệm đạo đức mang tính tự nguyện nhưng lại chính là trọng tâm của TNXH. - Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của DN vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, đóng góp cho các dự án cộng đồng,… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện với các loại trách nhiệm còn lại là DN hoàn toàn tự nguyện. Nếu DN không thực hiện đến mức độ này vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi. Mặc dù mô hình do Carroll đề xuất có tính toàn diện, đã được sử dụng làm khung tiêu chuẩn cho DN và từng được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm.
Tuy nhiên, sự phân tích rạch ròi 4 loại trách nhiệm theo cấp bậc cho thấy để phấn đấu được thực hiện trách nhiệm ở cấp cao hơn thì DN phải thỏa mãn được trách nhiệm cấp thấp trước. Điều này sẽ không phù hợp với thực tế vì các trách nhiệm vẫn có thể lồng ghép và tồn tại song song với nhau. Theo quan điểm của nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới (WB), CRS là sự cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của NLĐ và các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như phát triển chung của xã hội. e -10- Dựa trên các quan điểm về CSR ở trên, nội hàm CSR về cơ bản đều có điểm chung là, bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, việc thực hiện CSR của DN được thực hiện trên tinh thần tự nguyện. Mặc dù là dựa trên tinh thần tự nguyện nhưng các DN cần phải quan tâm và thực hiện TNXH vì trong bối cảnh hiện nay, khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng có cái nhìn khắt khe hơn đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm với NLĐ, môi trường và phúc lợi cộng đồng. Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ không còn cơ hội tiêu thụ sản phẩm cũng như tiếp cận thị trường mới. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với NLĐ NLĐ là một trong những bên liên quan cốt lõi nhất đối với DN.
Trách nhiệm xã hội đối với NLĐ là trách nhiệm của DN đối với bên liên quan quan trọng nhất. Khái niệm về TNXH của DN đối với NLĐ đã được đề xuất bởi các tác giả khác nhau, trong đó có thể kể đến như sau: Theo Thái Thị Hồng Minh (2007): “TNXH trong lĩnh vực lao động được hiểu là việc các DN thực hiện quyền lợi dành cho cán bộ, công nhân viên, NLĐ nói chung trong DN”. Quyền lợi này chính là sự quan tâm đến hợp đồng lao động, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, sự tôn trọng, công bằng cả về đời sống vật chất và tinh thần [20]. Anna và Zuzana (2012) cho rằng: “TNXH đối với NLĐ là thực thi tốt các cam kết đảm bảo quyền và lợi ích của nhân viên về: giờ làm việc, sức khỏe và an toàn lao động, tiền lương, thương lượng tập thể cũng như quan hệ công việc cá nhân và sự giao tiếp nội bộ” [25].
Theo Lê Thị Hướng (2017): “TNXH đối với NLĐ là việc đảm bảo lợi ích chính đáng cho NLĐ”. Để đảm bảo lợi ích chính đáng cho NLĐ, trước hết DN có trách nhiệm chấp hành nghiêm các văn bản luật liên quan đến lao e -11- động, ngoài ra DN cũng có trách nhiệm đáp ứng những lợi ích cao hơn ngoài phạm vi luật định [10]. Trên cơ sở tổng quan những khái niệm đã đưa ra, có thể hiểu: TNXH của DN đối với NLĐ là thực hiện các cam kết của DN trong việc thực hiện những nghĩa vụ của DN đối với NLĐ, đảm bảo các quyền lợi cả về mặt vật chất và tinh thần cho NLĐ trong sự hài hoà lợi ích với các bên liên quan, đảm bảo sự phát triển bền vững cho DN. Lao động là một trong những đối tượng TNXH của DN và giữ một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của DN.
Trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, một trong những đãi ngộ được sử dụng để tạo động lực cho NLĐ chính là các hoạt động TNXH được thực hiện bởi DN. TNXH có tác động thuận chiều đến sự gắn kết, khả năng tuyển dụng, mức độ thoả mãn, sự trung thành và cam kết với DN của NLĐ. NLĐ thường làm việc hiệu quả hơn trong những DN có TNXH và các DN có thực hiện tốt TNXH đối với NLĐ thường sẽ thu hút nhiều nhân tài hơn các DN khác. Theo đó, thực hiện TNXH đối với NLĐ rõ ràng là một vấn đề quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN.
Các tiêu chuẩn liên quan đến TNXH doanh nghiệp đối với người lao động Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một cơ quan của Liên hiệp quốc với cơ chế ba bên (chính phủ, NLĐ và người sử dụng lao động) được thành lập với mục đích thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về lao động trên phạm vi quốc tế. Các tiêu chuẩn tối thiểu này là công cụ pháp lý đặt ra các nguyên tắc và quyền cơ bản chung tại nơi làm việc. Chúng gắn với NLĐ ở mọi nơi, làm việc trong mọi loại hình tổ chức và nhằm ngăn ngừa cạnh tranh không bình đẳng trên cơ sở bóc lột và lạm dụng. Các tiêu chuẩn của ILO được xây dựng thông qua đàm phán ba bên ở cấp độ quốc tế giữa các chính phủ, NLĐ và người sử dụng lao động, và được biểu quyết bằng lá phiếu của các bên này.
e -12- Hội nghị lao động quốc tế lần thứ 86 họp tại Geneve tháng 6/1998 đã thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, xác định bốn nguyên tắc và quyền cơ bản của NLĐ, bao gồm: Quyền tự do liên kết và thỏa ước lao động tập thể; Quyền tự do không bị cưỡng bức hay bắt buộc lao động; Xóa bỏ một cách có hiệu quả lao động trẻ em; Quyền được đối xử bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.